• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Thư mời cộng tác
  • Về chúng tôi

Tạp chí hóa học

Nơi gặp gỡ, trao đổi của những bạn yêu hóa học.

  • Home
  • Học Sinh
    • Chuyên Đề Hóa Học
      • Hóa học 10
      • Hóa học 11
      • Hóa học 12
      • Hóa học 8 – 9
      • Luyện thi vào 10 THPT
      • Luyện thi ĐH – CĐ
      • Bồi dưỡng HSG
    • Thư Viện Đề Thi
    • Bạn có biết
      • Khám phá thế giới hóa học
      • Hóa học vui – cười
      • Chuyện kể về các nhà hóa học
      • Chuyện kể các nguyên tố hóa học
  • Sinh viên – Giáo viên
    • Giáo án Hoá
    • Ôn Thi Cao Học
    • Phương Pháp Dạy – Học
    • Thiết kế – sáng tạo bài giảng
    • Luận văn – NCKH
    • Kinh Nghiệm Giảng Dạy
    • Kiến Thức Chuyên Ngành
    • Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
  • Hóa học đời sống
    • Hóa học và thực phẩm
    • Hóa học và mỹ phẩm
    • Hóa học và môi trường
    • Hóa học và dược phẩm
    • Hóa học và công nghệ
  • Thông Tin
    • Dự án
    • Về chúng tôi
    • Thư mời cộng tác
  • Facebook
You are here: Home / Hoa Hoc 360 / Hãy để sinh viên làm việc và suy nghĩ trong lớp học

Hãy để sinh viên làm việc và suy nghĩ trong lớp học

10/04/2011 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh Leave a Comment

Việc học không giống môn thể thao thu hút nhiều khán giả. Sinh viên không học được nhiều nếu chỉ ngồi trong lớp, lắng nghe giáo viên giảng bài, ghi nhớ những bài tập đã được chuẩn bị sẵn và đưa ra câu trả lời. Sinh viên phải nói về những điều mình đang học, viết về những điều đó, liên hệ những gì mới học với những kinh nghiệm của bản thân trong quá khứ và vận dụng nó vào cuộc sống thường ngày. Họ phải biến những điều ghi trong sách vở trở thành những kiến thức của chính bản thân họ. 

 

Giờ học trên lớp thường cô đọng và quý báu thường chứa đựng những thông tin quan trọng mà các giáo viên muốn truyền đạt cho sinh viên. Vì sinh viên mới tiếp cận các kiến thức cơ bản hoặc trung cấp trong khi giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn của mình, nên điều quan trọng là giáo viên phải giúp sinh viên nắm rõ những điều mà họ cần học. Với quan niệm này, giáo viên thường sử dụng phương pháp thuyết giảng. 

Mặc dù thuyết giảng là một phần quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức, nhưng đó không hẳn là phương pháp duy nhất hay tốt nhất để giúp sinh viên nắm bắt thông tin mà giáo viên đang truyền đạt. Nguyên nhân không chỉ vì mức độ tập trung của người nghe thường dịch chuyển từ cao đến thấp trong một giờ học. Hơn thế, việc thuyết giảng gây ra sự thụ động trong suy nghĩ ngay cả đối với những sinh viên giỏi nhất. Các sinh viên phải ghi chú vội vàng và  không có thời gian để kiểm tra lại, hoặc đặt câu hỏi về một số vấn đề mà họ vừa  nghe giảng. Khi giáo viên phải thuyết giảng thì họ nên xem xét những phương pháp kiểm tra hiệu quả để chắc rằng sinh viên đang tiếp thu các khái niệm, chủ đề tổng quát và có khả năng phân chia chủ đề đó thành những phần nhỏ hơn. Hơn nữa, giáo viên có thể vận dụng các biện pháp thu hút sự tham gia của sinh viên ngay cả đối với một tiết học ngắn ngủi bằng việc thảo luận hay viết tiểu luận về vấn đề đã được trình bày.

Nhiều giáo sư trước đây chỉ dạy theo phương pháp thuyết trình nay đã thường xuyên vận dụng  phương pháp dạy học tích cực. Tất nhiên, khái niệm dạy học tích cực đã xuất hiện từ lâu. Tuy nhiên các loại tương tác mà chúng ta đã quen thuộc trong các buổi seminar, và các hoạt động giảng dạy đối những lớp ít sinh viên vẫn chưa được áp dụng nhiều đối với lớp có nhiều sinh viên. Hiện nay, nhiều giảng viên đang nghiên cứu tìm ra phương pháp hiệu quả để khiến lớp học đông sinh viên trở nên năng động, nhờ đó sinh viên làm việc tích cực hơn so với việc nắm bắt các thông tin quan trọng một cách thụ động trước đây.

Thế nào là phương pháp dạy học tích cực?

Phương pháp dạy học tích cực đơn giản là giúp sinh viên tham gia tích cực vào các hoạt động từ đó họ suy nghĩ và nhận định về các thông tin được trình bày. Khi đó, sinh viên không chỉ đơn giản lắng nghe, mà sẽ phát triển các kỹ năng trong việc nắm bắt khái niệm của các môn chuyên ngành. Họ sẽ phân tích, tổng hợp và đánh giá các thông tin trong các buổi thảo luận với những sinh viên khác, qua việc đặt câu hỏi hoặc viết bài tiểu luận. Tóm lại, sinh viên sẽ tham gia vào nhiều hoạt động giúp họ ngẫm nghĩ lại các khái niệm và cách vận dụng khái niệm đó.

Tùy thuộc vào từng môn chuyên ngành sẽ có nhiều phương pháp thu hút sinh viên tham gia các hoạt động học tập. Đối với bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng phát thảo một  vài lĩnh vực mà các bạn có thể vận dụng nhằm đưa ra phương cách hiệu quả để giúp sinh viên chuyển từ  cách ghi nhớ thụ động  sang mức độ hiểu biết cao hơn.

Sự thay đổi trong thuyết giảng:

Thuyết giảng tất nhiên là một phương pháp hiệu quả  để truyền tải một khối lượng lớn thông tin không dễ dàng nhận biết hoặc quá trình nghiên cứu tìm các thông tin đó không được trình bày. Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng việc thuyết giảng không phải bao giờ cũng khuyến khích sinh viên chuyển từ ghi nhớ thông tin thụ động sang mức độ hiểu, phân tích và tổng hợp thông tin từ đó có thể vận dụng sáng tạo hơn. Mặc dù, giáo viên có thể dựa vào phương pháp thuyết giảng truyền thống để trao đổi thông tin và khái niệm theo quan điểm riêng của mình, từ đó sinh viên hiểu được vấn đề giáo viên trình bày. Nhưng thay vì thuyết giảng suốt năm mươi phút, giáo viên trước hết nên thử bổ sung thêm những câu hỏi hoặc xen vào vài phút thảo luận.

Vài giáo viên bắt đầu bài giảng của mình bằng việc yêu cầu sinh viên suy nghĩ về những vấn đề chưa được giải quyết ở các bài trước, hoặc đưa ra một số câu hỏi về bài giảng trước hay bài đọc.  Khi đó, giáo viên có thể trình bày những vấn đề thuộc chủ đề của buổi học, phù hợp với trình độ hiểu biết của sinh viên trong khi vẫn bao quát được vấn đề mới. Loại bài tập này đặc biệt hiệu quả khi sinh viên  hiểu rằng giáo viên cần sự tham gia của họ vào đầu buổi học.

Giáo viên có thể sử dụng một kỹ thuật đơn giản khác để thu hút sự chú ý của sinh viên như ngưng thuyết giảng vài phút từ hai đến ba lần để sinh viên củng cố các ghi chú và đưa ra các câu hỏi về những vấn đề mà giáo viên vừa trình bày. Giáo viên phải chắc rằng sinh viên đã hiểu và đã ghi chú đầy đủ các vấn đề mà mình trình bày. Tuy nhiên đa số sinh viên cần thời gian để hệ thống lại các ghi chú của mình và suy nghĩ về các vấn đề giáo viên trình bày. Vài phút giải lao có thể giúp sinh viên nhận biết các khoảng trống trong các ghi chú của họ  hoặc suy nghĩ về một số câu hỏi nảy sinh.

Thêm vào đó, giáo viên có thể ngưng vài phút và yêu cầu sinh viên làm việc theo từng cặp để hệ thống các ghi chú và thảo luận vấn đề chính của bài giảng. Từng nhóm cũng có thể đưa ra các câu hỏi về các vấn đề họ cảm thấy không rõ, những câu hỏi này có thể được giải quyết vào cuối buổi học hoặc được dùng như điểm khởi đầu cho buổi học tiếp theo.

Một kỹ thuật hiệu quả cuối cùng là trước khi kết thúc buổi học giáo viên yêu cầu sinh viên gấp tập lại trong vài phút và viết lại dàn bài bài giảng của giáo viên trên giấy. Loại bài tập này sẽ giúp sinh viên nhớ lại, củng cố những nét chính của bài giảng và ôn tập tốt hơn sau này.

Đặt câu hỏi và thảo luận

Việc thảo luận sẽ rất phù hợp với lớp chỉ có từ 20 đến 30 sinh viên, nhưng đối với lớp có từ 100 sinh viên hoặc nhiều hơn thì sao? Theo nhận định của một số giáo viên thì chúng ta có thể vận dụng phương pháp thảo luận đối với lớp đông sinh viên và hiệu quả của khóa học cũng được nâng cao vì sinh viên thường phải tập trung cao độ và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động. Vài kỹ thuật có thể vận dụng đối với lớp đông sinh viên như giáo viên thuyết giảng khoảng 30 phút hoặc nhiều hơn và dành thời gian còn lại để đặt câu hỏi và yêu cầu sinh viên vận dụng hoặc phân tích thông tin vừa mới học, hay liên hệ chúng với bài đọc trong sách. Giáo viên nhấn mạnh bài giảng bằng những câu hỏi xúc tích, yêu cầu sinh viên giải thích nội dung chính bằng các thí dụ hoặc tìm sự giống nhau của các vấn đề. Giáo viên có thể dành một tuần cho thảo luận nhờ đó sinh viên có nhiều thời gian chuẩn bị hơn. Nói chung, hầu hết các kỹ thuật mà chúng ta dùng trong buổi thảo luận seminar đều có thể vận dụng đối với lớp đông sinh viên.

Sự hợp tác trong học tập

Làm việc theo nhóm là phương pháp bổ sung hiệu quả đối với lớp học đông sinh viên. Vì hoạt động thảo luận theo từng cặp không những giúp sinh viên hiểu và nhớ thông tin mà còn giúp  phát triển kỹ năng giao tiếp. Từ đó, sinh viên cũng có thể nhận biết mức độ hiểu bài cũng như một số thông tin bổ ích từ những sinh viên khác trong lớp. Nhiều sinh viên cho rằng họ thật sự hiểu bài khi họ giải thích bài, hoặc chỉ bài cho bạn cùng học.

Vài giáo viên tạm ngưng bài giảng của mình và yêu cầu sinh viên làm việc theo nhóm để giải quyết từ ba đến bốn câu hỏi riêng, hoặc một số vấn đề. Mỗi nhóm sẽ cử ra người đại diện nhóm báo cáo lại quá trình giải quyết vấn đề của nhóm trong khi các sinh viên còn lại  theo dõi. Giáo viên không cần thiết yêu cầu từng nhóm cho ý kiến nhận xét mà chỉ nên gọi một vài nhóm đại diện trong lớp.

Hoạt động nhóm cũng có thể được áp dụng với mức độ cao hơn. Giáo viên chia lớp  thành từng nhóm và khuyến khích sinh viên chia sẻ địa chỉ và số điện thoại. Sau đó từng nhóm có thể tập trung và trao đổi với nhau ngoài giờ lên lớp để nghiên cứu những dự án riêng của nhóm. Các nhóm có thể chịu trách nhiệm để bắt đầu buổi thảo luận, trình bày vài khái niệm quan trọng hay báo cáo lại quá trình nghiên cứu của nhóm. Để bắt đầu một buổi thảo luận, giáo viên có thể yêu cầu các nhóm nghiên cứu các vấn đề phức tạp và trình bày một điểm đặc biệt trong vấn đề đó sau đó cả lớp sẽ tranh luận.

Hoạt động đóng vai và giải quyết các tình huống

Giống như các cuộc tranh luận, hoạt động đóng vai và sự mô phỏng đòi hỏi sinh viên phải đặt mình trong từng hoàn cảnh cụ thể hoặc nghiên cứu về một nội dung quan trọng của khóa học. Ví dụ, sinh viên có thể đóng vai những nhân vật trong các sự kiện lịch sử, khi đó họ phải dựa vào địa vị, vai trò lịch sử của nhân vận để biện luận cho vài hành động cụ thể  hoặc quyết định của nhân vật lịch sử đó. Trong các lĩnh vực nghiên cứu, sinh viên có thể tự mình nghiên cứu một số quá trình vật lý, khám phá các quy luật và lý giải các quy luật đó cụ thể hơn.

Việc giải quyết tình huống mang tính cấu trúc nhiều hơn so với hoạt động đóng vai, vì các tình huống là những ví dụ cụ thể và thường dựa trên những vấn đề thực tế, tùy theo tình huống mà sinh viên sẽ đưa ra các quyết định. Những tình huống thường bao hàm một số  thông tin cần thiết làm cơ sở cho sinh viên đưa ra các quyết định và thường không có những phần phân tích hoặc kết luận. Sinh viên phải nghiên cứu những thông tin được cung cấp và đề xuất biện pháp cũng như quyết định phù hợp cùng những bước tiến hành tiếp theo hoặc xác định và loại dữ liệu mà họ sẽ cần để có được quyết định phù hợp. Phương pháp giải quyết tình huống giúp kiểm tra khả năng phân tích và giải quyết vấn đề của sinh viên khi yêu cầu họ phải vận dụng sáng tạo những kỹ năng được học trên lớp.

Theo chúng tôi, đối các chuyên ngành thuộc lĩnh vực luật hoặc kinh tế thì hoạt động nghiên cứu tình huống là một trong những phương pháp giảng dạy rất cần thiết và hiệu quả, tuy nhiên phương pháp này cũng có thể vận dụng vào các chuyên ngành khác, nếu giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đó.

 

Bảng phân loại các hoạt động giảng dạy chiến lược tùy thuộc vào hoạt động của sinh viên và các rủi ro bao hàm.
Sinh viên năng động/ Ít rủi ro hơn Sinh viên năng động/ Mức độ rủi ro cao hơn
Phân chia lớp thành các nhóm nhỏ để thảo luận Hoạt động đóng vai
Khảo sát hoặc sử dụng bản câu hỏi Từng nhóm nhỏ trình bày
Sự thuyết minh Trình bày bởi từng sinh viên
Các hoạt động tự đánh giá Hướng dẫn bằng các bài tập ảo
Hoạt động động não Từng nhóm nhỏ thảo luận
Tiểu luận trong lớp Thuyết giảng đúng lúc
Chuyến đi nghiên cứu thực tế về lĩnh vực chuyên ngành
Chuyến tham quan thư viện để tìm hiểu về cách sử dụng dữ liệu và nguồn tài nguyên của thư viện
Bài kiểm tra hoặc thi.
Thuyết giảng với những thời gian cách khoảng.
Thuyết giảng kèm theo thảo luận
Ý kiến phản hồi của bài thuyết giảng
Sinh viên thụ động/ mức độ rủi ro thấp Sinh viên thụ động/ mức độ rủi ro cao
Cho lớp xem phim trong khi thuyết giảng Mời giảng viên mà không nắm rõ trình độ của họ.
Từ Charles C.Bonwell và James. A. Eison, học tập tích cực: Tạo sự sôi động trong lớp học, ASHE-ERIC giáo dục đại học, báo cáo No.1. Washington, D.C: Trường đại học George Washington, Khoa sư phạm và phát triển con người, 1991.

 

Giáo viên có thể gặp khó khăn trong việc tìm ra phương thức vận dụng hiệu quả các tình huống trong giảng dạy, và có nhiều cách để giáo viên ước định hiện trạng giảng dạy để tìm được giải pháp thích hợp. Thật vậy, sự nhập nhằng vốn có trong nhiều trường hợp để bắt đầu buổi thảo luận là đòi hỏi sinh viên phải đánh giá độ tin cậy và giá trị của các luận cứ và cách lập luận.

Những trở ngại đối với phương pháp dạy học tích cực

Trong khi các hoạt động nêu ra ở đây có vẻ lôi cuốn đối với các giảng viên khác hoặc đối với các chuyên ngành khác nhưng với bạn thì không. Đó là sự trở ngại của bản thân có thể xảy ra. Việc áp dụng các hoạt động mới đôi khi giống như việc đương đầu với một số nguy cơ, đặc biệt khi điều đó đồng nghĩa với việc từ bỏ cách quản lý theo mệnh lệnh của giáo viên. Bên cạnh đó, luôn luôn tồn tại các áp lực mong muốn truyền tải càng nhiều tài liệu càng tốt vì thế các hoạt động mà sinh viên tham gia trong lớp có thể trở nên lãng phí.

Giáo viên đôi khi cũng chịu áp lực của học viện trong việc thử nghiệm phương pháp giảng dạy mới vì bất cứ sự thử nghiệm nào đều cần thời gian để suy nghĩ do đó làm giảm bớt thời gian dành cho công tác nghiên cứu và viết sách. Đôi lúc giáo viên không nhận được sự khuyến khích hay sự hỗ trợ từ phía nhà trường để nâng cao chất lượng và đổi mới phương pháp giảng dạy. Vì thế, giáo viên thường lo sợ khi thử nghiệm một phương pháp mới và chịu áp lực về các rủi ro có thể xảy ra trong lớp.

Mặc dù khi thử nghiệm phương pháp giảng dạy mới, giáo viên cảm thấy không thoải mái. Nhưng theo các giảng viên đã dạy theo phương pháp dạy học tích cực đối với lớp đông sinh viên thì phương pháp này có hiệu quả và nên vận dụng. Qua việc áp dụng phương pháp này, sinh viên có thể hiểu bài tốt hơn vì họ phải ngay lập tức suy nghĩ và vận dụng những thông tin mà giáo viên cung cấp chứ không phải ghi chú lại để sau này mới suy nghĩ.

Giáo viên hãy tạo nhiều điều kiện cho sinh viên tham gia vào các hoạt động trong lớp cũng như yêu cầu họ thường xuyên đánh giá mức độ hiểu vấn đề và các kỹ năng vận dụng các khái niệm hay cách giải quyết vấn đề  thuộc chuyên ngành của họ. Vì thế, phương pháp này giúp sinh viên phải hiểu sâu kiến thức hơn là hài lòng với việc nắm kiến thức qua loa. Từ đó, sinh viên sẽ nghiên cứu sâu hơn và thường xuyên đặt ra các câu hỏi hoặc các khó khăn khi họ giải quyết các vấn đề và bài tập. Những sinh viên này sẽ chuẩn bị tốt hơn trong kỳ thi vì không cần đợi đến thời điểm cuối cùng mới chuẩn bị các câu hỏi và vấn đề liên quan. Tóm lại, phương pháp dạy học tích cực trong lớp là hữu ích cho cả giáo viên và sinh viên.

CÁC CHUYÊN VIÊN TƯ VẤN TRỢ GIẢNG CỦA TRUNG TÂM DẠY VÀ HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC STANFORD 

Các chuyên viên tư vấn trợ giảng của trung tâm dạy và học là những sinh viên đã tốt nghiệp và có kinh nghiệm trợ giảng và kinh nghiệm trong việc giảng dạy theo phương pháp thảo luận và nghiên cứu vấn đề. Nếu bạn là một người trợ giảng, bạn nên liên hệ với một trong số họ, hoặc trở thành thành viên của trung tâm này, khi bạn yêu cầu phần giảng dạy có băng hình hoặc buổi đánh giá lớp học.

CÁC TRỢ GIẢNG LÀM NHIỆM VỤ LIÊN LẠC CỦA TRUNG TÂM DẠY VÀ HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC STANFORD  

Những trợ giảng làm nhiệm vụ liên lạc của trung tâm dạy và học là các trợ giảng được đề cử bởi khoa giúp bạn liên lạc với các trợ giảng, giảng viên khác hoặc sử dụng dịch vụ của trung tâm dạy và học và những nguồn tài nguyên khác dùng trong giảng dạy ở trường đại học. Hãy liên hệ người làm nhiệm vụ liên lạc của khoa nếu bạn cần thêm thông tin.

 

 

Jehanne Anabatawi Triết học Hàng không vũ trụ Sally Gressens
Bari Anholt Khoa học chính trị Nhân loại học Linda Zimmerman
Ramon Arrowsmith Khoa học trái đất Hội họa Elizabeth Moreno
Derede Arthur Tiếng Anh Ngôi ngữ châu Á Ramon Arrowsmith
Angela Bakker Sinh học con người Sinh học Christopher Manning
Hanya Chrispeels Sinh học Tiếng Pháp và Tiếng Ý Linda Zimmerman
Marcelo Clerici-Arias Kinh tế học Tiếng Pháp và Tiếng Ý Phiroze Vasunia
Sean Decatur Hóa học Ngôi ngữ châu Á Manish Raizada
Sanford Dickert Kỹ thuật điện Sinh học Max Moerman
Scott Dudley Tiếng Anh Văn học kinh điển Phiroze Vasunia
Donna Fortier Tiếng pháp Công trình dân dụng Christopher Manning
Mark Gonnerman Tôn giáo học Công trình dân dụng Linda Zimmerman
Rafael Guzman Kỹ thuật hóa dầu Công trình dân dụng Manish Raizada
Tanya Kalich Toán học Văn học kinh điển Jehanne Anabawi
Dennis Kinsey Thông tin Ngôi ngữ châu Á Ramon Arrowsmith
Traci Mann Triết học Khoa học chính trị Max Moerman
Chris Manning Ngôn ngữ học Tâm lý học Elizabeth Moreno
Lance Miller Nhân loại học Ngôn ngữ học Judy Kalb
Max Moerman Lịch sử Ngôn ngữ học Jehanne Anabawi
Linda Price Ngôn ngữ học Ngôi ngữ châu Á Angela Bakker
Sandra Razieli Lịch sử Tiếng Pháp và Tiếng Ý Tami Westre
Renee Romano Ngôn ngữ học Văn học kinh điển Jehanne Anabawi
Jackie Scott Nhân loại học Khoa học chính trị Bari Anhalt
Eric Schocket Hội họa Tâm lý học Tami Westre
Keith Todd Hội họa Ngôn ngữ học Bari Anhalt
Mark Unno Ngôn ngữ học Văn học kinh điển Max Moerman
Linda Zimmerman Nhân loại học Khoa học chính trị Judy Kalb
Ngôn ngữ Slavic Tami Westre
Xã hội học Liz Boyle

 

DẠY VÀ HỌC

TRUNG TÂM DẠY VÀ HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC STANDFORD

SQ3R

Phương pháp này sẽ giúp bạn trong việc đọc hiểu và phương pháp ghi chú hiệu quả.

1. (Survey) Khảo sát: Trước hết, bạn hãy đọc trước nội dung của chương thật kỹ. Xem các đề mục, tiêu đề phụ, những phần in đậm hay nghiên, các đồ thị hay biểu đồ, phần tóm tắt và/hoặc phần kết luận, các câu hỏi ở cuối mỗi chương.

2. (Question) Đặt câu hỏi: Hoạt động đọc là một quá trình suy nghĩ, việc đặt câu hỏi giúp bạn chủ động trong việc đọc hiểu và nắm vấn đề. Hãy đặt câu hỏi trước khi bạn đọc. Chuyển đổi các đề mục hoặc đề mục phụ thành các câu hỏi. VIẾT RA GIẤY CÁC CÂU HỎI ĐÓ.

3. (Read) Đọc: Đọc hết các phần của chương và lần lượt trả lời các câu hỏi mà bạn đã đặt ra.

Chú ý: Khi đọc bạn phải hiểu những vấn đề mà tác giả trình bày, chứ không phải chỉ để trả lời các câu hỏi. Hãy viết ra các thông tin mà bạn nghĩ là quan trọng.

4. (Recite) Thuật lại: Hãy tự thuật lại nội dung mà bạn đã đọc. Hãy đọc to các câu hỏi, câu trả lời và các ghi chú mà bạn đã viết ra. Hãy chuyển những ý chính và vấn đề mới theo cách hiểu của bạn. Hãy nghiên cứu bất kỳ câu trả lời hay thông tin mà bạn thấy chưa thật rõ.

5. (Review) Ôn tập: Hãy đọc lại các ghi chú của bạn càng thường xuyên càng tốt. Việc ôn tập thường xuyên sẽ giúp bạn nhớ các thông tin nhiều hơn.

HÃY VẬN DỤNG LINH HOẠT: Trước hết hãy vận dụng từng bước phương pháp SQ3R và sau đó hãy biến đổi cho phù hợp với mục tiêu và phương pháp học của bạn.

Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Primary Sidebar

Điền địa chỉ email để nhận tin tức hàng ngày:

DANH MỤC

TỪ KHÓA HAY

bai tap nang cao bai tap trac nghiem bai tap tu luan bài giảng bài tập hóa học bảng tuần hoàn công nghệ thông tin Day day hoc intel de thi ebook ebook hóa học hoa hoa 10 hoa 11 hoa 12 hoc hóa chất hóa dược hóa học hóa học việt nam hóa học xanh hóa học đời sống kinh nghiem day hoc liên kết hóa học luyện thi ly luan nguyên tử nhận thức phan mem day hoc phan ung õi hoa - khu phim thi nghiem phim thi nghiem hoa hoc phuong phap day hoc phuong phap day hoc tich cuc phương pháp phản ứng sách hóa học thi dai hoc thiet ke bai giang thi thử tu lieu day hoc tu lieu day hoc hoa hoc ̜hóa học ứng dụng

Copyright © 2026 · Tạp chí Hóa Học

 

Loading Comments...