• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Thư mời cộng tác
  • Về chúng tôi

Tạp chí hóa học

Nơi gặp gỡ, trao đổi của những bạn yêu hóa học.

  • Home
  • Học Sinh
    • Chuyên Đề Hóa Học
      • Hóa học 10
      • Hóa học 11
      • Hóa học 12
      • Hóa học 8 – 9
      • Luyện thi vào 10 THPT
      • Luyện thi ĐH – CĐ
      • Bồi dưỡng HSG
    • Thư Viện Đề Thi
    • Bạn có biết
      • Khám phá thế giới hóa học
      • Hóa học vui – cười
      • Chuyện kể về các nhà hóa học
      • Chuyện kể các nguyên tố hóa học
  • Sinh viên – Giáo viên
    • Giáo án Hoá
    • Ôn Thi Cao Học
    • Phương Pháp Dạy – Học
    • Thiết kế – sáng tạo bài giảng
    • Luận văn – NCKH
    • Kinh Nghiệm Giảng Dạy
    • Kiến Thức Chuyên Ngành
    • Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
  • Hóa học đời sống
    • Hóa học và thực phẩm
    • Hóa học và mỹ phẩm
    • Hóa học và môi trường
    • Hóa học và dược phẩm
    • Hóa học và công nghệ
  • Thông Tin
    • Dự án
    • Về chúng tôi
    • Thư mời cộng tác
  • Facebook
You are here: Home / Hoa Hoc 360 / Kiểm tra miệng – Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

Kiểm tra miệng – Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

23/03/2012 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh Leave a Comment

Phần 1: Chuẩn bị cho việc kiểm tra nói

Phương pháp kiểm tra nói được áp dụng rộng rãi trong việc đánh giá thường xuyên và được tiến hành hầu như ở mỗi giờ học về Hoá học. Hoạt động của giáo viên trong lúc kiểm tra rất phức tạp. Vì thế người giáo viên phải chuẩn bị cho việc hỏi miệng thật cẩn thận, chu đáo không kém gì việc chuẩn bị bài mới.

1. Việc chuẩn bị cho việc kiểm tra nói

          Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác định chính xác những gì cần kiểm tra.Công việc này sẽ đơn giản đi nếu trong khi soạn kế hoạch dạy học và soạn bài trước đó, người giáo viên đã xác định được mức độ tối thiểu kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần nắm được trong từng bài học và sau khi học xong mỗi chương, mục. Trên cơ sở này có thể chuẩn bị các câu hỏi để hỏi miệng từng học sinh sao cho vừa đạt được mục đích kiểm tra kiến thức, vừa giải quyết được các yêu cầu học tập khác như chính xác hoá, củng cố các kiến thức đã thu nhận được, rèn luyện kĩ năng trình bày mạch lạc và chuẩn bị để tiếp thu các kiến thức mới.

          Câu hỏi đặt ra cho học sinh phải chính xác, rõ và xác định để học sinh không thể hiểu theo hai nghĩa khác nhau và dẫn đến việc trả lời lạc đề. Bài ra cho học sinh chuẩn bị và trả lời chỉ nên gồm ít câu hỏi, trong đó có một số câu hỏi cơ bản; nhưng cũng có thể không phải là câu hỏi mà là một đề tài để học sinh báo cáo ngắn gọn (đó là loại bài tập để phát triển tư duy và ngôn ngữ đối với học sinh được chỉ định). Ở những lớp đầu cấp, những câu hỏi để kiểm tra nói chỉ nên đòi hỏi những câu trả lời tương đối ngắn; những lớp cuối cấp có thể yêu cầu trình bày sâu và chi tiết hơn. Chẳng hạn ở lớp 9 có thể đưa ra câu hỏi tương đối phức tạp như: “Các tính chất hoá học của kim loại? Ý nghĩa của dãy hoạt động hoá học của kim loại?”. Khi trả lời câu hỏi này, học sinh không những phải nêu lên những hiểu biết mà còn phải tỏ rõ kĩ năng diễn đạt kiến thức theo một trình tự xác định, lập luận những quan điểm lí thuyết được sử dụng trong câu trả lời.

          Bên cạnh những câu hỏi cơ bản nên chuẩn bị đề ra cho học sinh một bài tập hay một bài toán Hoá học gồm tính toán hay thí nghiệm. Cần chú ý chọn bài tập hay bài toán có thể giải được trong thời gian ngắn.

          Các giáo viên Hoá học thường ghi các câu hỏi, bài tập đó vào bài soạn. Nhưng cũng có thể ghi chúng vào những tờ bìa nhỏ được đánh số theo một kí hiệu quy ước riêng, rồi sắp xếp vào các hộp. Cách làm này có ích lợi là giáo viên sẽ có được một hộp phiếu các câu hỏi và bài tập, chúng sẽ được sử dụng luôn luôn trong thực tế giảng dạy.

          Ngoài những câu hỏi cơ bản và bài tập, trong khi hỏi miệng, giáo viên có thể nêu ra những câu hỏi bổ sung, đặc biệt những câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức, suy nghĩ tích cực. Chẳng hạn khi kiểm tra về tính chất vật lí và ứng dụng của nhôm, giáo viên có thể nêu câu hỏi: “Những ứng dụng của nhôm trong đời sống và công nghiệp dựa vào những tính chất gì của nhôm?”. Nhờ những câu hỏi bổ sung đó, giáo viên có thể hình dung được đầy đủ hơn về chất lượng kiến thức của học sinh.

Kiểm tra miệng - Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

Phần 2: Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra nói

a. Người giáo viên phải hình dung được rõ ràng những nhiệm vụ đối với công tác kiểm tra đánh giá kiến thức nói chung và những nhiệm vụ đối với hình thức kiểm tra nói. Có thể nêu ra hai nhiệm vụ cơ bản sau đây đối với kiểm tra nói:

          – Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể bộc lộ một cách tự nhiên và đầy đủ nhất những hiểu biết của họ;

          – Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành cảu học sinh mà phát hiện ra tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng thật của họ.

b. Sau khi đặt câu hỏi chung cho cả lớp, cần cho học sinh một thời gian cần thiết để chuẩn bị trả lời rồi mới gọi học sinh lên bảng. Cần lưu ý rằng học sinh lúc được gọi lên bảng để trả lời câu hỏi là đang ở trong một hoàn cảnh đặc biệt làm họ ít nhiều lo lắng. Để có thêm thời gian cho học sinh chuẩn bị câu trả lời, nhiều giáo viên Hoá học đã áp dụng cách tổ chức sau đây: Không chỉ gọi một học sinh mà gọi hai hoặc ba học sinh cùng lên bảng. Trước tiên giáo viên nêu câu hỏi cơ bản chung cho cả lớp rồi gọi một học sinh lên chuẩn bị trả lời miệng hay viết trên bảng đen. Sau đó giáo viên nêu câu hỏi thứ hai cho cả lớp và gọi học sinh thứ hai. Cũng làm như vậy đối với học sinh thứ ba.

          Khi học sinh được gọi lên đầu tiên đã chuẩn bị xong thì giáo viên cho phép trả lời trước. Tuy vậy, nếu các em thứ hai hoặc thứ ba lại chuẩn bị xong trước và tỏ ra bình tĩnh, khá hơn thì có thể cho các em này trả lời trước. Trong lúc đó, hai học sinh kia tiếp tục chuẩn bị: viết lên bảng các công thức hoá học, giải các bài toán. Nhờ chuẩn bị trước, học sinh có thể trình bày kiến thức của mình một cách nhanh chóng và đầy đủ hơn. Như vậy phương pháp này tạo điều kiện cho học sinh có kĩ năng trả lời một cách có suy nghĩ mà không hấp tấp vội vàng.

c. Thái độ và cách đối xử của giáo viên đối với học sinh có ý nghĩa to lớn trong khi kiểm tra nói. Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức và kĩ năng của học sinh được kiểm tra.

          Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học sinh. Trong thực tế có một số giáo viên đã không có sự lưu tâm cần thiết khi nghe học sinh trả lời, lại đi kiểm tra vở của học sinh trong lớp hoặc ghi chép gì đó. Điều đó chứng tỏ giáo viên chưa chú ý đúng mức tới câu trả lời của học sinh và có ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý học sinh. Khi nhìn thấy sự lơ đãng của giáo viên đối với câu trả lời của mình, học sinh sẽ mất dần tinh thần trách nhiệm đối với câu trả lời và sau đó mất cả hứng thú trả lời.

          Còn tệ hại hơn thế nếu không có lí do cần thiết mà giáo viên lại ngắt câu trả lời của học sinh khi các em trình bày thiếu hay nhầm lẫn một điều gì đó. Trong khi kiểm tra miệng, có một số giáo viên khi thấy học sinh phạm phải một số sai sót, đã ngắt lời học sinh, uốn nắn ngay tức khắc. Trái lại, một số khác cho rằng phải im lặng, chờ cho học sinh trả lời xong rồi mới uốn nắn những lệch lạc. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng cần căn cứ vào tình hình cụ thể để giải quyết vấn đề này. Cùng một sai sót của học sinh nhưng trong điều kiện này thì phải uốn nắn ngay mà trong điều kiện khác lại phải chờ đến khi các em trả lời xong. Nếu học sinh chỉ đơn thuần nhầm lẫn thì có thể uốn nắn ngay vì sẽ không làm cho học sinh đi lệch khỏi dàn ý của họ mà còn giúp các em đó lấy lại được bình tĩnh sau khi đã bị các bạn trong lớp cười ồ lên vì nói sai. Nhưng nếu không phải nhầm lẫn mà hiểu sai hay lẫn lộn thì nên để học sinh trình bày hết những hiểu biết của họ. Cần chống thái độ quá dễ dãi, mà phải nghiêm khắc đúng mức và khách quan trong khi kiểm tra kiến thức. Nếu học sinh không trả lời được câu hỏi đặt ra hoặc chưa hoàn thành những bài làm ở nhà thì phê phán, cho điểm kém rồi cho về chỗ mà không nên để các em đứng quá lâu ở cạnh bảng.

          Để thấy rõ tình trạng thực tế và kiến thức của học sinh, có thể áp dụng “thủ thuật biểu tượng phản diện”. Ví dụ, khi giáo viên nêu câu hỏi: “Oxit là gì?” mà học sinh trả lời: “Oxit là hợp chất mà phân tử gồm hai nguyên tố”, thì giáo viên viết lên bảng công thức NaCl và hỏi tiếp: “Đây có phải là oxit không? Nó là hợp chất gồm hai nguyên tố như em đã định nghĩa”. Lúc đó, học sinh sẽ dễ dàng thấy rằng mình định nghĩa chưa đầy đủ và vội vã bổ sung thêm: “Oxit là hợp chất mà phân tử gồm hai nguyên tố, trong đó có một nguyên tố là oxi”.  Như vậy có thể đánh giá kiến thức của học sinh là chưa đầy đủ, chính xác. Nhưng nếu học sinh không nhận ra kiến thức thiếu chính xác, không phát biểu được định nghĩa đầy đủ về oxit thì phải đánh giá là học sinh chưa hiểu.

          Có một giáo viên đã áp dụng cách kiểm tra phối hợp như sau: Sau khi đã chỉ định hai hoặc ba học sinh lên bảng để trả lời, giáo viên yêu cầu tất cả các học sinh còn lại chuẩn bị trả lời vào giấy nháp một câu hỏi khác (viết và cân bằng một số phương trình phải ứng hoặc giải một bài tập v.v…), sau đó giáo viên thu một số bản nháp và sẽ chữa ngay sau khi các học sinh được gọi lên bảng trả lời xong. Đấy là một trong những cách tạo điều kiện cho học sinh được tích cực làm việc trong giờ học, nhưng cần chú ý đến trình độ của học sinh va khả năng của bản thân giáo viên mà vận dụng cho thích hợp, không nên lạm dụng.

Kiểm tra miệng - Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

Phần 3: Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong kiểm tra nói

Có thể dung ba cách sau đây:

          Cách thứ nhất: Học sinh làm thí nghiệm Hoá học hay sử dụng phương tiện trực quan theo trình tự trả lời trên cơ sở câu hỏi giáo viên nêu ra.

          Cách thứ hai: Sau khi trả lời xong, học sinh sẽ làm thí nghiệm Hoá học hay sử dụng phương tiện trực quan. Có thể coi như học sinh trả lời hai lần câu hỏi đã cho: lần đầu tiên không dùng các phương tiện trực quan, sau đó sử dụng chúng để làm sáng tỏ những điều vừa trình bày.

          Khi ứng dụng cách thứ nhất, học sinh có thể dựa vào mẫu các chất, các bảng, tranh vẽ và làm thí nghiệm để nhớ những điều đã học mà đều không có chúng thì họ sẽ không nhớ được; hơn thế các em còn có thể biết thêm được một số kiến thức mà các em chưa biết trước khi sử dụng các phương tiện trực quan.

          Khi dùng cách thứ hai, ta có thể tránh được hầu hết các thiếu sót của cách thứ nhất. Bằng cách so sánh câu trả lời của học sinh trước khi sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan với câu trả lời của chính học sinh đó sau khi làm thí nghiệm hoặc sử dụng phương tiện trực quan để minh hoạ, giáo viên có thể nhận rõ được trình độ kiến thức thực sự của học sinh, tránh được việc đánh giá quá cao hay quá thấp.

          Cách thứ ba: Cách thứ nhất và cách thứ hai trên đây không đủ để xác định xem học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức như thế nào trong những điều kiện đã thay đổi. Để thấy rõ kĩ năng này cần ra cho học sinh những bài tập vận dụng kiến thức.

          Ví dụ, có thể ra những bài tập kiểu như sau: vẽ một dụng cụ tương tự như dụng cụ đã học hoặc vẽ khác về hình dạng bề ngoài, nhưng giống về nguyên tắc hoạt động (chẳng hạn vẽ các dụng cụ khác nhau hoạt động theo nguyên tắc của bình Kíp). Cũng có thể cho học sinh giải những bài tập thực nghiệm. Khi quan sát xem cách học sinh giải bài tập thực nghiệm này, giáo viên có thể hiểu rõ hơn trình độ vận dụng kiến thức của từng học sinh.

Kiểm tra miệng - Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

Phần 4: Sử dụng kiểm tra nói để hoàn thiện kiến thức cho học sinh

Khi tổ chức kiểm tra kiến thức học sinh, cần phải giải quyết một khó khăn rất lớn sau đây: Khi một hay hai, ba học sinh được chỉ định lên bảng thì học sinh khác trong lớp cần phải làm gì và làm như thế nào. Trong khi hỏi một học sinh trên bảng (mà không dùng sách kiểm tra phối hợp) thì tất cả các học sinh đều phải tập trung chú ý nghe các câu trả lời của bạn đang được kiểm tra. Trong khi nghe như thế, mỗi người có thể củng cố hoặc bổ sung kiến thức của bản thân. Muốn đạt được như vậy thì không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh của giáo viên mà phải tạo ra được sự kích thích trong bản thân học sinh.

          – Một cách thu hút sự chú ý của tất cả các học sinh trong lớp đến câu trả lời của bạn được kiểm tra là khuyến khích các em lắng nghe để có thể nhận xét về câu trả lời của bạn. Sau khi học sinh đã trả lời xong, giáo viên hỏi cả lớp: “Trả lời như vậy có đúng không? Tất cả các em đồng ý với câu trả lời của bạn không? Có điều nào sai hoặc thiếu không?”. Cần chú ý sao cho việc lôi kéo cả lớp nhận xét câu trả lời của em được kiểm tra không gây ra khó khăn cho em đang trả lời (Chẳng hạn nhiều học sinh xì xào, bàn tán làm cho học sinh này mất bình tĩnh). Sau khi học sinh được kiểm tra trả lời xong câu hỏi cơ bản, giáo viên có thể nêu câu hỏi bổ sung để học sinh đó trả lời và sửa chữa những nhầm lẫn, thiếu sót. Sau đó giáo viên mới yêu cầu học sinh cả lớp cho nhận xét về câu trả lời của bạn.

          – Để việc tham gia nhận xét đó là bắt buộc đối với mọi học sinh, giáo viên có thể chỉ định không những học sinh giơ tay muốn phát biểu ý kiến mà cả những học sinh khácnếu giáo viên thấy cần kiểm tra kiến thức hoặc việc học bài của học sinh đó. Đối với những câu trả lời của học sinh đứng tại chỗ trình bày thì tùy theo tính chất phức tạp câu hỏi, hay tính chất câu trả lời mà giáo viên có thể hoặc biểu lộ đồng tình, hoặc nhận xét câu trả lời không đúng và đôi khi có thể cho một điểm tốt hay xấu. Nhờ vậy có thể nâng cao sự quan tâm và trách nhiệm của học sinh đối với câu trả lời của bản thân họ. Tuy nhiên cần hết sức thận trọng khi cho điểm.

          – Một biện pháp nữa làm cho học sinh chú ý lắng nghe ý kiến trả lời của bạn là không nên hỏi nhiều học sinh về cùng một vấn đề. Nếu các câu trả lời đã bao gồm hết nội dung của vấn đề và ká đầy đủ rồi thì không nên hỏi về vấn đề ấy nữa. Nếu trong các câu trả lời của học sinh còn có những lỗ hổng nghiêm trọng thì giáo viên có thể đặt cho cả lớp những câu hỏi thích hợp để học sinh trả lời bổ sung. Nếu học sinh trả lời sai hoặc không đầy đủ, không có hệ thống mà việc nhắc lại là cần thiết trong bài học thì giáo viên buộc phải yêu cầu một học sinh khác trả lời cùng câu hỏi đã nêu ra cho học sinh trước đó.

          – Ngoài ra  cần tránh tình trạng giáo viên “dạy riêng” cho học sinh được gọi lên bảng để kiểm tra kiến thức. Nhờ những câu hỏi gợi ý của giáo viên, một học sinh nhanh nhẹn, tuy không học bài cũ, không làm bài, có thể đoán ra câu trả lời đúng và cùng với thầy giáo nhắc lại hoặc học thuộc ngay cả những điều mà lẽ ra họ phải học ở nhà chứ không phải ở lớp lúc kiểm tra. Trong khi đó, những học sinh đã học bài và làm bài cẩn thận lại phải nghe và nhìn thấy cảnh tượng thầy giáo lấy giờ học chung, lẽ ra dành cho cả lớp, để dạy riêng cho học sinh. Phương pháp kiểm tra như trên có tác hại rất lớn, làm cho học sinh mất hứng thú học tập, dễ vi phạm kỉ luật và mất trật tự v.v…

          Những điều trên dây chứng tỏ rằng có thể và cần phải sử dụng kiểm tra nói để hoàn thiện kiến thức của học sinh. Tuy vậy thời gian dành cho kiểm tra nói cũng phải có mức độ thích hợp tùy theo sự phức tạp của câu trả lời và tùy theo khối lớp. Ở những lớp mới bắt đầu học Hóa học thì thời gian trung bình đối với việc hỏi miệng mỗi học sinh chỉ nên khoảng 5 phút. Ở các lớp học trên, theo kinh nghiệm của nhiều giáo viên, một câu trả lời phong phú và có nhận xét, phê phán đúng mức cũng chỉ đòi hỏi 7- 8 phút. Ở những lớp này, cần yêu cầu học sinh trình bày câu trả lời một cách mạch lạc, có hệ thống, chặt chẽ theo dàn ý xác định mà không có câu hỏi gợi ý của giáo viên.

——————————————————————————–

Teen làm gì mỗi khi giờ kiểm tra miệng đến?

Nếu có thời gian thoải mái nào trong tiết học thì đó dứt khoát không phải là giờ kiểm tra miệng. Thật sự, là một phần không thể thiếu của tiết học, nhưng 15 phút “sinh tử” này luôn khiến teen lo lắng, thấp thỏm, cho dù có học bài kỹ đến đâu đi chăng nữa. Và, dù ý thức được hay… vô thức, teen sẽ thực hiện những hành động sau đây:

Giở sách tìm đáp án và cắm cúi đọc

Sau khi nghe câu hỏi, trong lớp sẽ tập tức vang lên tiếng loẹt xoẹt giở sách vở để tìm đáp án. Những teen đã học bài ở nhà thì lướt qua các ý chính, còn những teen lười thì chỉ có đọc lấy đọc để, như muốn nhặt chữ trong sách ra mà nuốt vậy. Cố “nuốt” nhanh, nghẹn cũng kệ, nước đến cổ rồi còn suy tính gì! Một lý do nữa để teen ít muốn ngẩng mặt lên là kém tự tin, sợ bị gọi nên cứ cúi xuống nhìn sách cho có cảm giác an toàn!

Còn trong trường hợp thầy cô nghiêm khắc, bắt gấp sách lại ngay từ đầu giờ, thì teen sẽ (giả vờ) ngồi im trong chốc lát, đợi cơ hội thì… mở hé hé để ngó vào trong cuốn sách, coi vớt vát được ý nào là hay ý đó.

Nhìn quanh lớp

Hành động này sẽ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn 2 giây (vì nếu lâu hơn thì teen sợ sẽ bị thầy cô gọi lên bảng do thái độ lơ láo). Mục đích của nó là để nghía xem có nhân mạng nào dũng cảm noi gương anh hùng Phan Đình Giót lên “đỡ đạn” cho cả lớp hay không. Biểu hiện của vị “đại hiệp” này có thể là giơ tay xung phong, hay nổi bật giữa đám đông vì “dám” ngẩng cao đầu nhìn thầy cô với ánh mắt “như đúng rồi”. Trông thấy vị cứu tinh như thế, khối teen sẽ thở phào nhẹ nhõm vì yên tâm hơn với ý nghĩ thầy cô sẽ không (hoặc chưa) gọi đến mình.

Trong nhiều trường hợp, lớp của teen cũng có “chiến thuật” đang hoàng: phân công từng bạn xung phong lên bảng vào mỗi tiết. Khi đó, khoảnh khắc này sẽ là lúc mọi con mắt sẽ đổ dồn vào người được giao nhiệm vụ cao cả đó và chuẩn bị lên đường ra nơi “hòn tên mũi đạn”.

Nhìn thầy cô và…cuốn sổ điểm

Hành động này thì còn chớp nhoáng hơn nữa, chỉ trong chốc lát thôi, kẻo thầy cô lại tưởng là muốn xung phong lên bảng thì “tạch”. Mục đích của hành động này là để dò xem thái độ của thầy cô lúc đó, vui vẻ hay bực bội, dễ tính hay nghiêm khắc để chuẩn bị tinh thần đối phó.

Còn nhìn cuốn sổ điểm là để đoán xem thầy cô sẽ gọi ai trong sổ. Chả thế, cứ mỗi khi thầy cô rà xuống dưới trang giấy là khối teen có tên ở đó giật mình thon thót; còn khi cô liếc lên phía trên thì những teen có “hộ khẩu” ở đó sẽ phải xanh mặt, tim đập chân run…

Thở phào nhẹ nhõm

Khi cái tên bị gọi lên bảng không phải của mình. Tuy nhiên, nếu thầy cô giáo còn tỏ ra có ý định gọi kiểm tra thêm, chu kỳ lại bắt đầu từ hành động “mở sách tìm đáp án” cho câu hỏi mới.

Từng ấy biểu hiện đã đủ để kết luận bệnh “sợ kiểm tra miệng mãn tính” cho teen chưa nhỉ?


Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Kiểm tra miệng – Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

03/04/2011 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh Leave a Comment

Phần 3: Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong kiểm tra nói

Phần 1: Việc chuẩn bị cho việc kiểm tra nói

Phần 2: Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra nói

Có thể dung ba cách sau đây:

Cách thứ nhất: Học sinh làm thí nghiệm Hoá học hay sử dụng phương tiện trực quan theo trình tự trả lời trên cơ sở câu hỏi giáo viên nêu ra.

Cách thứ hai: Sau khi trả lời xong, học sinh sẽ làm thí nghiệm Hoá học hay sử dụng phương tiện trực quan. Có thể coi như học sinh trả lời hai lần câu hỏi đã cho: lần đầu tiên không dùng các phương tiện trực quan, sau đó sử dụng chúng để làm sáng tỏ những điều vừa trình bày.

Khi ứng dụng cách thứ nhất, học sinh có thể dựa vào mẫu các chất, các bảng, tranh vẽ và làm thí nghiệm để nhớ những điều đã học mà đều không có chúng thì họ sẽ không nhớ được; hơn thế các em còn có thể biết thêm được một số kiến thức mà các em chưa biết trước khi sử dụng các phương tiện trực quan.

Khi dùng cách thứ hai, ta có thể tránh được hầu hết các thiếu sót của cách thứ nhất. Bằng cách so sánh câu trả lời của học sinh trước khi sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan với câu trả lời của chính học sinh đó sau khi làm thí nghiệm hoặc sử dụng phương tiện trực quan để minh hoạ, giáo viên có thể nhận rõ được trình độ kiến thức thực sự của học sinh, tránh được việc đánh giá quá cao hay quá thấp.

Cách thứ ba: Cách thứ nhất và cách thứ hai trên đây không đủ để xác định xem học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức như thế nào trong những điều kiện đã thay đổi. Để thấy rõ kĩ năng này cần ra cho học sinh những bài tập vận dụng kiến thức.

Ví dụ, có thể ra những bài tập kiểu như sau: vẽ một dụng cụ tương tự như dụng cụ đã học hoặc vẽ khác về hình dạng bề ngoài, nhưng giống về nguyên tắc hoạt động (chẳng hạn vẽ các dụng cụ khác nhau hoạt động theo nguyên tắc của bình Kíp). Cũng có thể cho học sinh giải những bài tập thực nghiệm. Khi quan sát xem cách học sinh giải bài tập thực nghiệm này, giáo viên có thể hiểu rõ hơn trình độ vận dụng kiến thức của từng học sinh.

Mời các bạn đón đọc phần 4: Sử dụng kiểm tra nói để hoàn thiện kiến thức học sinh

Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Kiểm tra miệng – Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

03/04/2011 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh 1 Comment

Phần 1: Việc chuẩn bị cho việc kiểm tra nói

Phần 2: Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra nói

a. Người giáo viên phải hình dung được rõ ràng những nhiệm vụ đối với công tác kiểm tra đánh giá kiến thức nói chung và những nhiệm vụ đối với hình thức kiểm tra nói. Có thể nêu ra hai nhiệm vụ cơ bản sau đây đối với kiểm tra nói:

– Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể bộc lộ một cách tự nhiên và đầy đủ nhất những hiểu biết của họ;

– Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành cảu học sinh mà phát hiện ra tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng thật của họ.

b. Sau khi đặt câu hỏi chung cho cả lớp, cần cho học sinh một thời gian cần thiết để chuẩn bị trả lời rồi mới gọi học sinh lên bảng. Cần lưu ý rằng học sinh lúc được gọi lên bảng để trả lời câu hỏi là đang ở trong một hoàn cảnh đặc biệt làm họ ít nhiều lo lắng. Để có thêm thời gian cho học sinh chuẩn bị câu trả lời, nhiều giáo viên Hoá học đã áp dụng cách tổ chức sau đây: Không chỉ gọi một học sinh mà gọi hai hoặc ba học sinh cùng lên bảng. Trước tiên giáo viên nêu câu hỏi cơ bản chung cho cả lớp rồi gọi một học sinh lên chuẩn bị trả lời miệng hay viết trên bảng đen. Sau đó giáo viên nêu câu hỏi thứ hai cho cả lớp và gọi học sinh thứ hai. Cũng làm như vậy đối với học sinh thứ ba.

Khi học sinh được gọi lên đầu tiên đã chuẩn bị xong thì giáo viên cho phép trả lời trước. Tuy vậy, nếu các em thứ hai hoặc thứ ba lại chuẩn bị xong trước và tỏ ra bình tĩnh, khá hơn thì có thể cho các em này trả lời trước. Trong lúc đó, hai học sinh kia tiếp tục chuẩn bị: viết lên bảng các công thức hoá học, giải các bài toán. Nhờ chuẩn bị trước, học sinh có thể trình bày kiến thức của mình một cách nhanh chóng và đầy đủ hơn. Như vậy phương pháp này tạo điều kiện cho học sinh có kĩ năng trả lời một cách có suy nghĩ mà không hấp tấp vội vàng.

c. Thái độ và cách đối xử của giáo viên đối với học sinh có ý nghĩa to lớn trong khi kiểm tra nói. Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức và kĩ năng của học sinh được kiểm tra.

Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học sinh. Trong thực tế có một số giáo viên đã không có sự lưu tâm cần thiết khi nghe học sinh trả lời, lại đi kiểm tra vở của học sinh trong lớp hoặc ghi chép gì đó. Điều đó chứng tỏ giáo viên chưa chú ý đúng mức tới câu trả lời của học sinh và có ảnh hưởng tiêu cực tới tâm lý học sinh. Khi nhìn thấy sự lơ đãng của giáo viên đối với câu trả lời của mình, học sinh sẽ mất dần tinh thần trách nhiệm đối với câu trả lời và sau đó mất cả hứng thú trả lời.

Còn tệ hại hơn thế nếu không có lí do cần thiết mà giáo viên lại ngắt câu trả lời của học sinh khi các em trình bày thiếu hay nhầm lẫn một điều gì đó. Trong khi kiểm tra miệng, có một số giáo viên khi thấy học sinh phạm phải một số sai sót, đã ngắt lời học sinh, uốn nắn ngay tức khắc. Trái lại, một số khác cho rằng phải im lặng, chờ cho học sinh trả lời xong rồi mới uốn nắn những lệch lạc. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng cần căn cứ vào tình hình cụ thể để giải quyết vấn đề này. Cùng một sai sót của học sinh nhưng trong điều kiện này thì phải uốn nắn ngay mà trong điều kiện khác lại phải chờ đến khi các em trả lời xong. Nếu học sinh chỉ đơn thuần nhầm lẫn thì có thể uốn nắn ngay vì sẽ không làm cho học sinh đi lệch khỏi dàn ý của họ mà còn giúp các em đó lấy lại được bình tĩnh sau khi đã bị các bạn trong lớp cười ồ lên vì nói sai. Nhưng nếu không phải nhầm lẫn mà hiểu sai hay lẫn lộn thì nên để học sinh trình bày hết những hiểu biết của họ. Cần chống thái độ quá dễ dãi, mà phải nghiêm khắc đúng mức và khách quan trong khi kiểm tra kiến thức. Nếu học sinh không trả lời được câu hỏi đặt ra hoặc chưa hoàn thành những bài làm ở nhà thì phê phán, cho điểm kém rồi cho về chỗ mà không nên để các em đứng quá lâu ở cạnh bảng.

Để thấy rõ tình trạng thực tế và kiến thức của học sinh, có thể áp dụng “thủ thuật biểu tượng phản diện”. Ví dụ, khi giáo viên nêu câu hỏi: “Oxit là gì?” mà học sinh trả lời: “Oxit là hợp chất mà phân tử gồm hai nguyên tố”, thì giáo viên viết lên bảng công thức NaCl và hỏi tiếp: “Đây có phải là oxit không? Nó là hợp chất gồm hai nguyên tố như em đã định nghĩa”. Lúc đó, học sinh sẽ dễ dàng thấy rằng mình định nghĩa chưa đầy đủ và vội vã bổ sung thêm: “Oxit là hợp chất mà phân tử gồm hai nguyên tố, trong đó có một nguyên tố là oxi”.  Như vậy có thể đánh giá kiến thức của học sinh là chưa đầy đủ, chính xác. Nhưng nếu học sinh không nhận ra kiến thức thiếu chính xác, không phát biểu được định nghĩa đầy đủ về oxit thì phải đánh giá là học sinh chưa hiểu.

Có một giáo viên đã áp dụng cách kiểm tra phối hợp như sau: Sau khi đã chỉ định hai hoặc ba học sinh lên bảng để trả lời, giáo viên yêu cầu tất cả các học sinh còn lại chuẩn bị trả lời vào giấy nháp một câu hỏi khác (viết và cân bằng một số phương trình phải ứng hoặc giải một bài tập v.v…), sau đó giáo viên thu một số bản nháp và sẽ chữa ngay sau khi các học sinh được gọi lên bảng trả lời xong. Đấy là một trong những cách tạo điều kiện cho học sinh được tích cực làm việc trong giờ học, nhưng cần chú ý đến trình độ của học sinh va khả năng của bản thân giáo viên mà vận dụng cho thích hợp, không nên lạm dụng.

Mời các bạn đón đọc phần 3: Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong kiểm tra nói

Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Kiểm tra miệng – Phương pháp quan trọng để kiểm tra đánh giá học sinh

03/04/2011 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh 2 Comments

Phần 1: Chuẩn bị cho việc kiểm tra nói

Phần 2: Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra nói

Phần 3: Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong kiểm tra nói

Phần 4: Sử dụng kiểm tra nói để hoàn thiện kiến thức học sinh

Phương pháp kiểm tra nói được áp dụng rộng rãi trong việc đánh giá thường xuyên và được tiến hành hầu như ở mỗi giờ học về Hoá học. Hoạt động của giáo viên trong lúc kiểm tra rất phức tạp. Vì thế người giáo viên phải chuẩn bị cho việc hỏi miệng thật cẩn thận, chu đáo không kém gì việc chuẩn bị bài mới.

1. Việc chuẩn bị cho việc kiểm tra nói

Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác định chính xác những gì cần kiểm tra. Công việc này sẽ đơn giản đi nếu trong khi soạn kế hoạch dạy học và soạn bài trước đó, người giáo viên đã xác định được mức độ tối thiểu kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần nắm được trong từng bài học và sau khi học xong mỗi chương, mục. Trên cơ sở này có thể chuẩn bị các câu hỏi để hỏi miệng từng học sinh sao cho vừa đạt được mục đích kiểm tra kiến thức, vừa giải quyết được các yêu cầu học tập khác như chính xác hoá, củng cố các kiến thức đã thu nhận được, rèn luyện kĩ năng trình bày mạch lạc và chuẩn bị để tiếp thu các kiến thức mới.

Câu hỏi đặt ra cho học sinh phải chính xác, rõ và xác định để học sinh không thể hiểu theo hai nghĩa khác nhau và dẫn đến việc trả lời lạc đề. Bài ra cho học sinh chuẩn bị và trả lời chỉ nên gồm ít câu hỏi, trong đó có một số câu hỏi cơ bản; nhưng cũng có thể không phải là câu hỏi mà là một đề tài để học sinh báo cáo ngắn gọn (đó là loại bài tập để phát triển tư duy và ngôn ngữ đối với học sinh được chỉ định). Ở những lớp đầu cấp, những câu hỏi để kiểm tra nói chỉ nên đòi hỏi những câu trả lời tương đối ngắn; những lớp cuối cấp có thể yêu cầu trình bày sâu và chi tiết hơn. Chẳng hạn ở lớp 9 có thể đưa ra câu hỏi tương đối phức tạp như: “Các tính chất hoá học của kim loại? Ý nghĩa của dãy hoạt động hoá học của kim loại?”. Khi trả lời câu hỏi này, học sinh không những phải nêu lên những hiểu biết mà còn phải tỏ rõ kĩ năng diễn đạt kiến thức theo một trình tự xác định, lập luận những quan điểm lí thuyết được sử dụng trong câu trả lời.

Bên cạnh những câu hỏi cơ bản nên chuẩn bị đề ra cho học sinh một bài tập hay một bài toán Hoá học gồm tính toán hay thí nghiệm. Cần chú ý chọn bài tập hay bài toán có thể giải được trong thời gian ngắn.

Các giáo viên Hoá học thường ghi các câu hỏi, bài tập đó vào bài soạn. Nhưng cũng có thể ghi chúng vào những tờ bìa nhỏ được đánh số theo một kí hiệu quy ước riêng, rồi sắp xếp vào các hộp. Cách làm này có ích lợi là giáo viên sẽ có được một hộp phiếu các câu hỏi và bài tập, chúng sẽ được sử dụng luôn luôn trong thực tế giảng dạy.

Ngoài những câu hỏi cơ bản và bài tập, trong khi hỏi miệng, giáo viên có thể nêu ra những câu hỏi bổ sung, đặc biệt những câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức, suy nghĩ tích cực. Chẳng hạn khi kiểm tra về tính chất vật lí và ứng dụng của nhôm, giáo viên có thể nêu câu hỏi: “Những ứng dụng của nhôm trong đời sống và công nghiệp dựa vào những tính chất gì của nhôm?”. Nhờ những câu hỏi bổ sung đó, giáo viên có thể hình dung được đầy đủ hơn về chất lượng kiến thức của học sinh.

Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Primary Sidebar

Điền địa chỉ email để nhận tin tức hàng ngày:

DANH MỤC

TỪ KHÓA HAY

bai tap nang cao bai tap trac nghiem bai tap tu luan bài giảng bài tập hóa học bảng tuần hoàn công nghệ thông tin Day day hoc intel de thi ebook ebook hóa học hoa hoa 10 hoa 11 hoa 12 hoc hóa chất hóa dược hóa học hóa học việt nam hóa học xanh hóa học đời sống kinh nghiem day hoc liên kết hóa học luyện thi ly luan nguyên tử nhận thức phan mem day hoc phan ung õi hoa - khu phim thi nghiem phim thi nghiem hoa hoc phuong phap day hoc phuong phap day hoc tich cuc phương pháp phản ứng sách hóa học thi dai hoc thiet ke bai giang thi thử tu lieu day hoc tu lieu day hoc hoa hoc ̜hóa học ứng dụng

Copyright © 2026 · Tạp chí Hóa Học

 

Loading Comments...