Con người có tâm hồn rộng lớn và bao dung – trong suốt cuộc đời, bà là người như vậy. Bà là người đầu tiên tổ chức việc áp dụng các bức xạ trong y học, trong thời gian chiến tranh, bà đã đào tạo trên 150 người làm việc trên thiết bị X quang.
Bà là một trong những người tiên phong trong sự nghiên cứu hiện tượng phóng xạ. Nhờ công trình này, bà cùng chồng là Pierre Curie và người phát minh đầu tiên ra hiện tượng phóng xạ là Bêcơren được trao tặng giải thưởng Nôben về Vật lý vào ngày 10 tháng 12 năm 1903. Tám năm sau, bà lại nhận được một giải thưởng Nôben thứ hai và lần này về Hoá học (vì phát minh ra các nguyên tố phóng xạ radi và poloni, vì đã giải thích được bản chất của radi và tách nó ra dưới dạng kim loại). Như thế, Maria Sklodowska-Curie là người phụ nữ đầu tiên được trao giải thưởng cao nhất và là nhà bác học đầu tiên được trao giải thưởng tới hai lần. Nhiều Viện hàn lâm và Hội khoa học trên thế giới đã bầu bà làm thành viên danh dự.
Toàn bộ cuộc đời của Maria Sklodowska-Curie là chiến công, là lao động không mệt mỏi cho khoa học. Châm ngôn của bà là lời nói của chồng bà, nhà vật lý nổi tiếng Pierre Curie: “Dù có xảy ra điều gì chăng nữa, thậm chí dù hồn có lìa khỏi xác thì vẫn phải làm việc”. Công việc nghiên cứu các chất phóng xạ bắt đầu trong một phòng thí nghiệm tối tăm, trang bị rất tồi tệ, là nơi mà vợ chồng Curie trong bốn năm trời đã xử lý hàng tấn bã thải urani. Hai nhà bác học đã thành công trong việc tách ra được những vết hầu như không đáng kể của các nguyên tố chưa hề biết tới là radi và poloni. Chỉ mãi đến năm 1902, họ mới thu được vào khoảng một đêxigam radi clorua tinh khiết . Cả giới khoa học nôn nóng đón chờ từng bài báo của Maria và Pierre Curie, và mỗi một bài đều mang lại một phần chân lí mới .
Ngày 19 tháng tư năm 1906, một sự kiện bi thảm xảy ra: do một tai nạn, Pierre Curie bị chết. Nhưng nỗi đau khổ không làm Mari gục ngã: ” Dù có xảy ra gì chăng nữa… thì vẫn phải làm việc”. Sự làm việc kiên trì đã mang lại những thành công mới. Năm 1910, bà cùng với Đơbiêc (ông được coi là phát minh ra actini) lần đầu tiên tách ra một lượng nhỏ radi kim loại tinh khiết. Về sau, sự kiện này được xếp vào 7 thành tựu khoa học lớn nhất, “bảy kì quan của thế giới” của phần tư đầu tiên của thế kỉ XX. Maria Sklodowska-Curie còn là nữ giáo sư đầu tiên. Những bài giảng về tính phóng xạ của bà được dùng làm cơ sở của công trình cơ bản: “Hiện tượng phóng xạ”, đã tái bản nhiều lần và được dịch ra các thứ tiếng nước ngoài. Maria Sklodowska-Curie là người đề xuất ra việc thành lập Viện radi ở Pari. Viện đó đã được xây dựng trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất và cho đến ngày cuối cùng của đời mình, Maria Sklodowska-Curie đứng đầu khoa hoá – lý của Viện này, đặt tại phố mang tên Pie và Mari Quyri .
Con người có tâm hồn rộng lớn và bao dung – trong suốt cuộc đời, bà là người như vậy. Bà là người đầu tiên tổ chức việc áp dụng các bức xạ trong y học, trong thời gian chiến tranh, bà đã đào tạo trên 150 người làm việc trên thiết bị X quang. Bà hiến toàn bộ giải thưởng Nôben lần thứ hai vào quỹ giúp đỡ thương binh. Bà đã tặng cho Viện radi ở Vacsava, thành lập năm 1932, một gam chất radi rất đắt; bà rất quan tâm giúp đỡ các nhà bác học trẻ từ khắp nơi trên thế giới đến làm việc tại phòng thí nghiệm của bà. Là người quốc tịch Ba Lan, bà không bao giờ quên Tổ quốc của bà. Nguyên tố Poloni đã được bà đặt theo tên nước Balan.
Maria Sklodowska-Curie chết vì bệnh phóng xạ. Cho tới nay, trong tập nhật kí phòng thí nghiệm của Maria Sklodowska-Curie, những quyển nhật kí trong thời gian phát minh và tách radi , người ta vẫn thấy phóng xạ ở mức độ cao. Loài người sẽ mãi ghi nhớ công lao to lớn của nhà nữ bác học vĩ đại.
Leave a Reply