• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Thư mời cộng tác
  • Về chúng tôi

Tạp chí hóa học

Nơi gặp gỡ, trao đổi của những bạn yêu hóa học.

  • Home
  • Học Sinh
    • Chuyên Đề Hóa Học
      • Hóa học 10
      • Hóa học 11
      • Hóa học 12
      • Hóa học 8 – 9
      • Luyện thi vào 10 THPT
      • Luyện thi ĐH – CĐ
      • Bồi dưỡng HSG
    • Thư Viện Đề Thi
    • Bạn có biết
      • Khám phá thế giới hóa học
      • Hóa học vui – cười
      • Chuyện kể về các nhà hóa học
      • Chuyện kể các nguyên tố hóa học
  • Sinh viên – Giáo viên
    • Giáo án Hoá
    • Ôn Thi Cao Học
    • Phương Pháp Dạy – Học
    • Thiết kế – sáng tạo bài giảng
    • Luận văn – NCKH
    • Kinh Nghiệm Giảng Dạy
    • Kiến Thức Chuyên Ngành
    • Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
  • Hóa học đời sống
    • Hóa học và thực phẩm
    • Hóa học và mỹ phẩm
    • Hóa học và môi trường
    • Hóa học và dược phẩm
    • Hóa học và công nghệ
  • Thông Tin
    • Dự án
    • Về chúng tôi
    • Thư mời cộng tác
  • Facebook
You are here: Home / Hoa Hoc 360 / Một số ví dụ áp dụng bài tập thực tiễn vào bài dạy

Một số ví dụ áp dụng bài tập thực tiễn vào bài dạy

22/03/2011 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh Leave a Comment

– Hóa học có vai trò to lớn trong sản xuất, đời sống, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiều lĩnh vực như: Lương thực thực phẩm, may mặc, sức khỏe, an ninh quốc phòng…
– Và Hoá học là môn học thực nghiệm kiến thức hóa học được vận dụng rất nhiều trong thực tế cuộc sống có khả năng phát huy sự hiểu biết của học sinh đối với thế giới bên ngoài nếu GV biết khai thác mọi tình huống dạy học, đặc biệt là thông qua việc xây dựng và xử lý hệ thống BT hoá học thực tiễn.
– BT hoá học thực tiễn giúp cho HS hiểu sâu thêm kiến thức, có thể mở rộng tri thức, rèn khả năng tư duy, tính kiên nhẫn trong việc giải BT… và vận dụng những kiến thức được học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
– Tuy nhiên, hiện nay trong chương trình Hóa học phổ thông các bài tập thực tiễn chưa nhiều, nội dung chưa phong phú. Nhiều bài tập hóa học còn xa rời thực tiễn cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toán phức tạp. Vì vậy học sinh chỉ hiểu kiến thức đã học một cách máy móc không vận dụng được vào thực tế cuộc sống dẫn đến không nắm vững được kiến thức.

Ý kiến của GV về vấn đề sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học Hóa học
– Sử dụng nhiều BTTT thì HS vận dụng tốt kiến thức trong bài học để giải quyết BT đó. Từ đó tạo được sự hứng thú, óc sáng tạo của HS, giúp HS yêu thích bộ môn hóa học
– Tùy theo tình hình lớp có chịu nghiên cứu học môn đó để đi sâu vào kiến thức hay không. Nếu lớp quá yếu cần liên hệ thực tế để dễ hiểu hơn
– BTTT là loại BT ứng dụng kiến thức và thực nghiệm chú trọng thực hành, lý giải hiện tượng. BTTT mang tính dễ thấy trong thực tế không nặng nề về kiến thức hàn lâm, BT phải ra làm sao mà HS chỉ cần trả lời 1 đến 2 ý là được.
– GV cần ra BTTT để HS vận dụng kiến thức đã học để điều chế được nhiều chất trong thực tế giúp HS yêu thích bộ môn hơn và việc học của mình có ý nghĩa hơn. Ví dụ: Từ S điều chế H2SO4, từ đó điều chế phân bón, …
– Đa số GV cho rằng việc sử dụng BTTT trong dạy học Hoá học là phát huy được tính tích cực của HS, giúp HS ham thích học hơn, lĩnh hội kiến thức tốt hơn
– GV thường ra BTTT cho HS dưới dạng trắc nghiệm và tự luận vào thời điểm khi dạy bài mới, khi củng cố ở cuối tiết dạy và đặc biệt trong kiểm tra đánh giá kiến thức HS.
– HS rất thích học khi GV giảng dạy có liên hệ nhiều đến thực tiễn đặc biệt là BTTT. Qua việc giảng dạy có liên hệ nhiều đến thực tiễn hay thực tế cuộc sống, HS dễ nhớ kiến thức và khắc sâu được kiến thức.
Qua các kết quả khảo sát, chúng ta có thể nhận thấy việc sử dụng BTTT trong dạy học Hóa học ở trường THPT là rất có hiệu quả. Khi học với BTTT HS được hoạt động nhiều hơn, nắm kĩ và hiểu sâu bài. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều GV chưa thực hiện thường xuyên. Do vậy chúng ta cần phổ biến để thực hiện sâu rộng hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
Đề xuất:
Đối với nhà trường: Nhà trường cần khuyến khích và tạo điều kiện cho GV Hóa học sử dụng BTTT trong dạy học, khi đó sẽ nâng cao được chất lượng dạy học.
Đối với GV:
+ Trong sách giáo khoa hiện nay còn rất ít các loại BTTT. Do đó, cần bổ sung các loại BTTT để HS tiếp cận với loại bài mới này.
+ Tăng cường sử dụng BTTT làm phương pháp và phương tiện để củng cố hoàn thiện kiến thức, kĩ năng cho HS trong dạy học hoá học.
+ Các BTTT cần được GV sử dụng thường xuyên hơn trong các tiết dạy cả tiết lí thuyết lẫn thực hành để phát huy được tính tích cực của HS và đi vào trí nhớ HS một cách dễ dàng hơn, không làm nặng nề kiến thức của HS.Từ đó HS cảm thấy hoá học không phải là khái niệm khó hiểu, khó nhớ mà ngược lại rất thiết thực và gần gũi với các em.
+ GV phải thường xuyên hướng dẫn HS làm BTTT, vận dụng các loại BT này vào các bài kiểm tra, để từ đó có thể củng cố, kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của HS, có thể kiểm tra miệng bằng cách cho HS giải các BT này.

Một số áp dụng BTTT vào bài dạy hóa học nâng cao 10:
Ở bài 42: Ozon và hiđro peoxit. Khi dạy xong mục II – Hiđro peoxit, ở phần 3 – Ứng dụng của hiđro peoxit. GV có thể sử dụng BTTT
Đề: (Câu hỏi lí thuyết và BTHH trung học phổ thông, trang 76)
Trong các nhà máy sản xuất rượu bia nước ngọt, nước là một nguyên liệu quan trọng, chất lượng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm. nước khử trùng bằng Clo thường có mùi khó chịu do lượng Clo dư gây nên. Do vậy mà các nhà máy đó đã sử dụng phương pháp khử trùng nước bằng ozon để nước không có mùi lạ. Ozon được bơm vào trong nước với hàm lượng từ 0,5- 5 g/m3. Lượng dư được duy trì trong nước khoảng 5- 10 phút để diệt các vi khuẩn cỡ lớn
a) Vì sao ozon lại có tính sát trùng?
b) Tính khối lượng ozon cần dùng để khử trùng nước đủ sản xuất được 400 lít rượu vang. Biết rằng để sản xuất được 1 lít rượu vang cần dùng hết 5 lít nước.
Ở bài 44: Hiđro sunfua. Khi dạy xong mục II – Tính chất vật lí. GV có thể sử dụng BTTT sau:
Đề: (Câu hỏi lí thuyết và BTHH trung học phổ thông, trang 81)
Khi hòa tan một lượng nhỏ hiđro sunfua trong nước được dung dịch trong suốt không màu. Để lọ thủy tinh trong suốt đựng dung dịch đó trong không khí vài ngày thì thấy hơi có vẩn đục. Hãy giải thích và viết phương trình hóa học.
Hướng dẫn:
H2S khi hòa tan trong nước thu được dung dịch axit sunfuhiđric trong suốt, khi để dung dịch này ngoài không khí thì nó dần dần trở nên vẩn đục màu vàng do oxi của không khí đã oxi hóa H2S thành lưu huỳnh làm cho dung dịch bị vẩn đục.
2H2S + O2 → 2S + 2H2O
Trong vận dụng kiến thức
Ở bài 32: Hợp chất có oxi của clo. Khi dạy mục II-Nước Gia-ven, clorua vôi, muối clorat. GV có thể sử dụng BTTT sau:
Đề: (BT chọn lọc hóa học 10, trang 140)
Giải thích vì sao nước Gia-ven có khả năng tẩy trắng vải sợi và cho biết vì sao trên thực tế người ta dùng clorua vôi nhiều hơn nước Gia-ven?
Hướng dẫn:
Trong nước Gia-ven, ClO- có tính oxi hóa mạnh do Clo có số oxi hóa +1 dễ nhận e tạo thành Cl-, nó oxi hóa được chất có màu thành chất không màu.
Trong không khí có CO2, clorua vôi tác dụng với CO2 giải phóng HClO nên có ứng dụng tương tự nước Gia-ven. 2CaOCl2 + CO2 + H2O → CaCO3 + CaCl2 + 2HClO
Clorua vôi cũng được dùng để tẩy trắng vải sợi, giấy, tẩy uế các hố rác, cống rãnh, xử lí các chất độc hữu cơ. Một lượng lớn clorua vôi được dùng để tinh chế dầu mỏ.
So với nước Gia-ven, clorua vôi rẻ tiền hơn, hàm lượng hipoclorit cao hơn, dễ bảo quản và chuyên chở hơn nên được sử dụng nhiều hơn.
=> BT này giúp HS hiểu rõ tính chất hóa học đặc trưng của nước Gia- ven và clorua vôi là tính oxi hóa mạnh.
Trong kiến thức củng cố:
Bài tập lí thuyết:
Ở bài 36: Iot ta có thể sử dụng bài tập sau:
Dùng Clo để khử trùng nước sinh hoạt là một phương pháp rẻ tiền và dễ sử dụng. Tuy nhiên, cần phải thường xuyên kiểm tra nồng độ clo dư ở trong nước bởi vì lượng clo dư sẽ gây nguy hiểm cho con người và môi trường. Cách đơn giản để kiểm tra lượng clo dư là dung kali iotua và hồ tinh bột. Hãy nêu hiện tượng của quá trìn này và viết phương trình hóa học (nếu có).
HD: Cho nước máy đã xử lí bằng clo vào ống nghiệm chứa dd KI không màu, thêm 1ml hồ tinh bột. Nếu nước máy còn dư clo, clo sẽ tác dụng với KI giải phóng ra I2, khi I2 gặp tinh bột sẽ chuyển thành màu xanh.
Cl2 + 2KI → KCl + I2
Slide 29
Þ Thông qua BT trên, học sinh sẽ củng cố được phản ứng điều chế I2 và nhớ lại tính chất hóa học của halogen mạnh đẩy halogen yếu ra khỏi dd muối của nó. Đồng thời, học sinh còn biết thêm cách để nhận biết I2 sinh ra. Hiện nay, nguồn nước đang bị ô nhiễm nên việc cung cấp nước sạch cho sinh hoạt là cần thiết nhưng việc xử lí nước nếu dùng dư clo thì sẽ gây nguy hiểm cho con người. Vì vậy có thể sử dụng cách trên để kiểm tra nồng độ clo dư trong nước sinh hoạt hàng ngày của gia đình để đảm bảo sức khỏe.
Ở bài 36: Iot ta có thể sử dụng bài tập sau:
Kali iotua trộn trong muối ăn để làm muối iot là một chất rất dễ bị oxi hóa thành I2 rồi bay hơi, nhất là khi có mặt nước hoặc các chất oxi hóa có trong muối, hoặc khi ở nhiệt độ cao. Theo nghiên cứu thì sau 3 tháng, KI trong muối ăn sẽ mất hoàn toàn. Để đề phòng điều đó, người ta hạn chế hàm lượng muối trong muối iot không vượt quá 3,5% về khối lượng (theo tiêu chuẩn Liên Xô cũ) bằng cách cho thêm chất ổn định iot như Na2S2O3. Khi đó có thể giữ lượng KI trong muối iot khoảng 6 tháng.
a). Tính lượng nước tối đa cho phép có trong một tấn muối iot theo tiêu chuẩn trên.
b). Hãy nêu phương pháp bảo quản muối iot và cách dùng muối iot khi nấu ăn nhằm hạn chế sự thất thoát iot.
Xây dựng tình huống vào bài
Bài 31: Hiđro clorua – Axit clohiđric
GV đặt câu hỏi: Trong dạ dày của chúng ta có một loại axit góp phần vào việc tiêu hóa thức ăn, đó là axit gì?
A. HCl B. H2SO4 C. HBr D. HNO3
Đáp án: A.
GV đặt vấn đề: HCl với nồng độ thấp trong dạ dày giúp cho quá trình tiêu hóa thức ăn dễ dàng, để hiểu thêm về HCl cũng như ứng dụng của nó trong thực tế chúng ta cùng tìm hiểu qua bài 31.
Bài 41: Oxi
GV đặt câu hỏi: Giả sử trên trái đất đột nhiên không còn một cây xanh nào thì chuyện gì sẽ xảy ra đối với con người?
HS trả lời: con người sẽ không thể sống được vì không có khí oxi để thở
GV đặt vấn đề: Như vậy khí Oxi rất cần thiết đối với chúng ta, chúng ta không thể tồn tại nếu không có oxi. Ngoài ra oxi còn có nhiều ứng dụng quan trọng khác trong đời sống và sản xuất của con người, chúng ta cùng tìm hiểu rõ hơn về oxi qua bài 41.
Theowebdayhoc

Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Primary Sidebar

Điền địa chỉ email để nhận tin tức hàng ngày:

DANH MỤC

TỪ KHÓA HAY

bai tap nang cao bai tap trac nghiem bai tap tu luan bài giảng bài tập hóa học bảng tuần hoàn công nghệ thông tin Day day hoc intel de thi ebook ebook hóa học hoa hoa 10 hoa 11 hoa 12 hoc hóa chất hóa dược hóa học hóa học việt nam hóa học xanh hóa học đời sống kinh nghiem day hoc liên kết hóa học luyện thi ly luan nguyên tử nhận thức phan mem day hoc phan ung õi hoa - khu phim thi nghiem phim thi nghiem hoa hoc phuong phap day hoc phuong phap day hoc tich cuc phương pháp phản ứng sách hóa học thi dai hoc thiet ke bai giang thi thử tu lieu day hoc tu lieu day hoc hoa hoc ̜hóa học ứng dụng

Copyright © 2026 · Tạp chí Hóa Học