• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Thư mời cộng tác
  • Về chúng tôi

Tạp chí hóa học

Nơi gặp gỡ, trao đổi của những bạn yêu hóa học.

  • Home
  • Học Sinh
    • Chuyên Đề Hóa Học
      • Hóa học 10
      • Hóa học 11
      • Hóa học 12
      • Hóa học 8 – 9
      • Luyện thi vào 10 THPT
      • Luyện thi ĐH – CĐ
      • Bồi dưỡng HSG
    • Thư Viện Đề Thi
    • Bạn có biết
      • Khám phá thế giới hóa học
      • Hóa học vui – cười
      • Chuyện kể về các nhà hóa học
      • Chuyện kể các nguyên tố hóa học
  • Sinh viên – Giáo viên
    • Giáo án Hoá
    • Ôn Thi Cao Học
    • Phương Pháp Dạy – Học
    • Thiết kế – sáng tạo bài giảng
    • Luận văn – NCKH
    • Kinh Nghiệm Giảng Dạy
    • Kiến Thức Chuyên Ngành
    • Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
  • Hóa học đời sống
    • Hóa học và thực phẩm
    • Hóa học và mỹ phẩm
    • Hóa học và môi trường
    • Hóa học và dược phẩm
    • Hóa học và công nghệ
  • Thông Tin
    • Dự án
    • Về chúng tôi
    • Thư mời cộng tác
  • Facebook
You are here: Home / Thông Tin / Tin tức giáo dục / Nghịch lý giáo dục: Đầu vào cao, đầu ra thất nghiệp

Nghịch lý giáo dục: Đầu vào cao, đầu ra thất nghiệp

22/07/2014 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh Leave a Comment

Đỗ đại học với tổng điểm 27 cho 3 môn thi, tốt nghiệp với hai tấm bằng loại giỏi nhưng chị Thu Hương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vẫn thất nghiệp dù đã ra trường 4 năm.

Từ khi bắt đầu bước chân vào cổng trường tiểu học đến khi tốt nghiệp đại học, lúc nào chị cũng đạt danh hiệu con ngoan, trò giỏi. Niềm vui của Hương là học và đạt điểm cao. Do đó chuyện thất nghiệp suốt 4 năm của Thu Hương khiến nhiều người ngạc nhiên, bố mẹ rầu rĩ vì ai cũng nghĩ hai tấm bằng loại giỏi, một của Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, một là bằng kinh tế của đại học Kinh tế Quốc dân, đáng lẽ chị đã có công việc ổn định từ lâu.

Hiện trạng thất nghiệp đã tác động không nhỏ đến xu hướng chọn trường của thí sinh.
Hiện trạng thất nghiệp đã tác động không nhỏ đến xu hướng chọn trường của thí sinh.

Lý do đơn giản là Hương tính nhút nhát, ngại nói về mình, chỉ biết học. Trong khi các bạn cùng trang lứa với chị nhiệt tình tham gia vào các hoạt động xã hội, tình nguyện thì chị chỉ cắm mặt vào sách vở. Bốn năm ra trường vẫn phải sống dựa vào bố mẹ cũng khiến Hương thất vọng và chán nản chính mình. Thu Hương chia sẻ: “Cái tôi cần có thêm đó chính là sự cọ xát với thực tế công việc, là kinh nghiệm và vốn sống. Sẽ tốt hơn nếu như khi còn là sinh viên tôi chịu khó đi thực tập ở các doanh nghiệp, cơ quan cùng lĩnh vực ngành học, vừa để rèn nghề vừa để làm dày thêm kinh nghiệm của mình. Nhà tuyển dụng thường đánh giá cao những người năng động và biết việc”.

Giống như Thu Hương, Thảo My cũng đang trong tình trạng thất nghiệp. Dù sở hữu tấm bằng giỏi cùng với việc đi du học thêm 2 năm nhưng Thảo My vẫn chưa được công ty nào nhận vào làm. Ban đầu, My lấy làm lạ vì bằng đẹp lại thêm tí “sính ngoại” mà vẫn bị doanh nghiệp từ chối. Nhưng sau đó tìm hiểu, tham khảo ý kiến mọi người, My biết cái mình thiếu chính là kinh nghiệm thực tế.

Thảo My tâm sự: “Đôi lúc tôi cũng thấy chán nản. Nhưng nghĩ lại thấy bằng cấp chỉ là tấm vé để bạn bước vào đời. Nếu chỉ tiếp thu những gì có trong trường mà không tự rèn luyện những kỹ năng khác, bạn sẽ chỉ có 1 tấm vé bình thường. Nhưng nếu khôn khéo học hỏi, tạo dựng những điều đó song song với quá trình học tập thì chắc chắn tấm vé ‘hạng sang’ với nhiều ưu ái hơn sẽ là dành cho bạn”.

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê và Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cả nước có 162.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp. Trên thực tế, yêu cầu đầu vào của các trường đại học cao và tỷ lệ chọi khắc nghiệt khiến các sĩ tử học “vắt chân lên cổ” trong suốt 3 năm học phổ thông trung học, thậm chí là từ những năm trung học cơ sở. Tuy nhiên, nhiều tân sinh viên chưa kịp vui mừng nhận giấy báo đỗ đã phải chịu cảnh thất nghiệp ngồi nhà, hoặc nhanh chóng bị nhà tuyển dụng đào thải sau 4 – 5 năm đại học. Do đó, ngày làm lễ tốt nghiệp trọng đại thường được các tân cử nhân gọi vui là “lễ thất nghiệp”.

Một nghịch lý khác trong ngành giáo dục là các bậc phụ huynh, sĩ tử khi chọn trường thường lấy chất lượng đầu vào chứ không phải đầu ra để làm tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường. Trong khi đó, chất lượng sinh viên, tỷ lệ việc làm, hay mức lương khởi điểm trung bình của tân cử nhân sau khi tốt nghiệp mới là tiêu chí quan trọng. Điều này vô hình chung còn gây nên tính “tự phụ” và sức “ì” cho nhiều sinh viên. Câu chuyện gần đây về nữ cử nhân gửi email đáp trả lại nhà tuyển dụng cũng là một ví dụ về việc một bộ phận sinh viên Việt Nam còn “ảo tưởng” về bản thân và thiếu hụt kỹ năng mềm.

Chương trình đào tạo tại đa số các trường đại học Việt Nam truyền thống được đánh giá là nặng và thuần lý thuyết. Thời gian dành cho các tiết học sách vở nhiều hơn khoảng 50% so với ở Mỹ, trong khi những tiết học thực hành có tính cọ xát lại bị bỏ bê (Theo TS. Peter Gray, Giám đốc đánh giá đào tạo của Trung tâm Bồi dưỡng giảng viên – Học viện Hải quân Mỹ). Nền giáo dục mà GS Hoàng Tụy – cha đẻ của toán học tối ưu toàn cục cho là “đang lạc điệu với thế giới văn minh” đã tạo một bộ phận nhân lực thiếu chất lượng.

Thực tế đào tạo – tuyển dụng này khiến không ít sĩ tử đổi hướng chọn trường dựa vào các chỉ số đáng tin cậy thay vì dựa vào danh tiếng “truyền đời” của các trường như trước. “Mình mất một thời gian để định hướng nghề nghiệp xem muốn học kinh tế hay công nghệ thông tin hơn. Sau đó thì đơn giản là Google vài cụm từ đáng tin cậy như tỷ lệ việc làm sau khi ra trường, mức lương khởi điểm trung bình… để lọc ra những ngôi trường phù hợp”, Tuấn Anh, SV năm 3 ĐH FPT, đồng thời đang làm Quản trị dự án tại một công ty phần mềm có tiếng ở Hà Nội nói về cách cậu chọn trường. Sau học kỳ thực tập tại doanh nghiệp, Tuấn Anh được công ty ký hợp đồng và làm trưởng nhóm, rồi quản trị dự án luôn, dù chưa lấy bằng tốt nghiệp. Lĩnh vực phần mềm khá cởi mở và cũng coi trọng nhân sự chất lượng cao.

Theo TS. Phan Quốc Việt, Ủy viên thường vụ Hội khoa học Phát triển Nhân lực và Nhân tài Việt Nam, do cách đào tạo của nhà trường vẫn lấy thi viết là chính để đánh giá kết quả học tập, nên hiện nay, sinh viên ra trường đa phần chỉ biết học thuộc. Giáo dục “đọc chép” khiến đa phần sinh viên bị thụ động, mà cuộc sống thì cần chủ động sáng tạo và nhiều khi cần sự mạo hiểm nữa” Vì vậy, sinh viên Việt Nam sau khi ra trường thường bị nhà tuyển dụng lắc đầu từ chối, phải làm trái ngành, hoặc được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu nếu may mắn. Trong khi đó, sinh viên trường tư, trường quốc tế hoặc các trường liên kết nước ngoài lại được nhà tuyển dụng đánh giá cao hơn, một phần là do chương trình và phương pháp học gắn liền với thực tiễn, phần khác là do các yếu tố ngoại ngữ và kỹ năng mềm tốt hơn.

Cũng theo TS. Phan Quốc Việt, giáo dục đang khủng hoảng thì sinh viên phải tự cứu mình. Chủ động, sáng tạo, mạo hiểm! Phải chủ động tự nghiên cứu thị trường việc làm, tham gia thị trường lao động “làm thêm” và điều chỉnh cách học để khi ra trường vững tin lập nghiệp. Trong nguy có cơ, khi mọi người thụ động thì sinh viên chủ động sẽ có rất nhiều cơ hội. Vì vậy, cần phải định hướng ngay từ trên ghế nhà trường rằng mình học để làm chủ chứ không phải học như cỗ máy để làm thuê.

Số liệu thực tế từ Đại học FPT cho thấy: 98% sinh viên trường này có việc làm sau 6 tháng tốt nghiệp với mức lương khởi điểm trung bình là 8,3 triệu đồng một tháng. Không chỉ Đại học FPT mà sinh viên một số trường đại học khối NCL có uy tín khác cũng đang được nhà tuyển dụng dần ưa thích, bởi các yếu tố năng lực, kiến thức thực tế, ngoại ngữ, kỹ năng mềm và đặc biệt là thái độ tốt của “sản phẩm đầu ra” từ các trường này.

Một số chuyên gia trong ngành giáo dục cho rằng, phụ huynh và học sinh cần bỏ qua tâm lý truyền thống khi chọn trường. Theo Phó GS. Trần Xuân Nhĩ, thí sinh phải đặt ra mục đích thi để làm gì chứ không phải thi để lấy bằng, thi phải đánh giá đúng trình độ, phản ánh đúng chất lượng, từ đó để xác định chất lượng đại học, hay cao đẳng. Qua rồi thời vào đại học để “lấy danh”, nên lấy việc học thật thi thật, năng lực thực tế, chất lượng đầu ra và tỷ lệ sinh viên có việc làm căn cứ chọn trường.

Filed Under: Tin tức giáo dục Tagged With: giáo dục, giáo viên, nghề nghiệp, Ngoại ngữ, ngoại thương, sinh viên, Thất nghiệp, tìm việc, việc làm

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Primary Sidebar

Điền địa chỉ email để nhận tin tức hàng ngày:

DANH MỤC

TỪ KHÓA HAY

bai tap nang cao bai tap trac nghiem bai tap tu luan bài giảng bài tập hóa học bảng tuần hoàn công nghệ thông tin Day day hoc intel de thi ebook ebook hóa học hoa hoa 10 hoa 11 hoa 12 hoc hóa chất hóa dược hóa học hóa học việt nam hóa học xanh hóa học đời sống kinh nghiem day hoc liên kết hóa học luyện thi ly luan nguyên tử nhận thức phan mem day hoc phan ung õi hoa - khu phim thi nghiem phim thi nghiem hoa hoc phuong phap day hoc phuong phap day hoc tich cuc phương pháp phản ứng sách hóa học thi dai hoc thiet ke bai giang thi thử tu lieu day hoc tu lieu day hoc hoa hoc ̜hóa học ứng dụng

Copyright © 2026 · Tạp chí Hóa Học

 

Loading Comments...