Nếu như một nhà khoa học trong đời mình có thể phát hiện ra được một nguyên tố hóa học mà trước đó chưa ai biết đến thì người ấy đủ để được xem là nhà khoa học kiệt xuất. Nhưng ở thế kỉ 20, có một nhà khoa học trong đời mình đã phát hiện 10 nguyên tố hóa học.

Người phát hiện nhiều nguyên tố hóa học nhất
Nếu như một nhà khoa học trong đời mình có thể phát hiện ra được một nguyên tố hóa học mà trước đó chưa ai biết đến thì người ấy đủ để được xem là nhà khoa học kiệt xuất. Nhưng ở thế kỉ 20, có một nhà khoa học trong đời mình đã phát hiện 10 nguyên tố hóa học. Người đó là Glenn Theodore Seaborg.
Ông là nhà vật lí và hóa phóng xạ, sinh năm 1912 tại Ishpeming (bang Michigan), Mỹ, tốt nghiệp Đại học California ở Los Angeles năm 1934. Trong thời gian từ 1934 – 1942, 1946 – 1961, và từ 1971 ông làm việc tại Đại học tổng hợp California ở Berkeley. Đồng thời trong các năm từ 1961 – 1971, ông là Chủ tịch Ủy ban năng lượng nguyên tử của Mỹ và là Chủ tịch ủy ban tư vấn khoa học của Mỹ trong các năm từ 1959 – 1961 ; là Chủ tịch Ủy ban soạn thảo chương trình mới về giáo dục hóa học ở Mỹ trong thời gian từ năm 1959 – 1974.
G. Seaborg nghiên cứu về vật lý hạt nhân, hóa học hạt nhân và những nguyên tố siêu uran. Năm 1940, ông đã tổng hợp được nguyên tố thứ 94 và đặt tên là Plutoni (Pu) (cùng với Mc Milian) nhưng mãi đến năm 1946 mới thông báo. Lý do là năm 1940, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, mà Plutoni theo như lời G. Seaborg là một vũ khí mới có sức mạnh chưa từng thấy từ trước tới nay (có khả năng tạo ra phản ứng dây chuyền tương tự như U235 ; 1 gam Plutoni-239 giá trị bằng 4 tấn than. Trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã sản xuất gần 1 triệu kg nguyên tố số 94: Plutoni-239). Cùng với các cộng tác viên, G. Seaborg tổng hợp thành công các đồng vị của các nguyên tố 93: Neptuni-327 (năm 1942) ; nguyên tố 96: Curi-242 (năm 1944) ; nguyên tố 95: Americi-241 (năm 1945) ; nguyên tố 97: Berkeri-243 (năm 1949) ; nguyên tố 98: Califoni-244 (năm 1955). Năm 1948, ông tách được vết Plutoni thiên nhiên từ quặng Urani. Năm 1952, ông phát hiện ra các đồng vị của nguyên tố số 99 là Eisteini và nguyên tố số 100 là Fermi từ hàng ngàn kg đất thu thập tại khu vực thử nổ bom nhiệt hạch ở Thái Bình Dương (năm 1952, cùng A. Giorso).
Tháng 5/1955, nhóm các nhà khoa học Mỹ, đướng đầu là G. Seaborg và A. Giorso, đã tìm ra nguyên tố thứ 101, đặt tên là Mendelevi (Mv), bởi theo họ: “Hệ thống các nguyên tố hóa học của Menđêlêép trong suốt gần 100 năm luôn luôn là cái chìa khóa để tìm ra các nguyên tố mới”. G. Seaborg còn là một trong những người phát hiện ra nguyên tố 106 mà tên ông được vinh dự đặt cho nguyên tố đó: Seaborgium.
G. Seaborg đã định danh tất cả hơn 100 đồng vị, cũng là người thực hiện việc đánh giá bằng lý thuyết độ bền tương đối của nguyên tử các nguyên tố 110, 114, 126 ; đề xướng (vào năm 1945) thuyết Actinid, khi đề nghị đưa vào “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học” hàng loạt các nguyên tố, bắt đầu từ nguyên tố số 90 (Thori) tới nguyên tố số 103 (có tên gọi còn chưa thống nhất), tương tự như họ Lantanid.
G. Seaborg là người sáng tạo các phương pháp tinh vi nhất để nghiên cứu tính chất của các nguyên tử Actinid phóng xạ, phát minh hiện tượng bắn phá hạt nhân bằng “mảnh”, phát triển lý thuyết tiên đoán tính chất của các nguyên tố còn chưa biết, đề xuất khái niệm kết cấu nguyên tố nặng. Những thành quả của ông được xem là một trong những sự kiện quan trọng nhất của khoa học kể rừ khi có “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học ” của Menđêlêép, tức là từ thế kỷ 19 tới nay.
Ông còn là nhà khoa học tích cực tuyên truyền cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, phản đối thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Ông được tặng giải thưởng Nobel về hóa học (năm 1951, cùng với E. H. Mc Millian, Mỹ), là Viện sĩ Viện hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ (năm 1948) và Viện sĩ Viện hàn lâm Liên Xô (năm 1971).
Năm 1977, có nhà báo hỏi ông đánh giá như thế nào về những thành tựu đã đạt được, ông khiêm tốn trả lời: “Từ khi là nhà khoa học trẻ mới 28 tuổi, tôi đã không ngừng trăn trở với các vấn đề đó. Tôi không cho rằng chúng ta đã cải biến được lịch sử thế giới”.
Ông qua đời vào ngày 25/02/1999, thọ 86 tuổi. Các nhà khoa học Mỹ đã tôn vinh ông là “Người khổng lồ chân chính của thế kỷ 20, nhân vật truyền kỳ của biên niên sử phát hiện khoa học”, là “một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ 20”.
Trích từ “Chuyện kể về những nhà hóa học nổi tiếng thế giới – Vũ Bội Tuyền”
Leave a Reply