• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Thư mời cộng tác
  • Về chúng tôi

Tạp chí hóa học

Nơi gặp gỡ, trao đổi của những bạn yêu hóa học.

  • Home
  • Học Sinh
    • Chuyên Đề Hóa Học
      • Hóa học 10
      • Hóa học 11
      • Hóa học 12
      • Hóa học 8 – 9
      • Luyện thi vào 10 THPT
      • Luyện thi ĐH – CĐ
      • Bồi dưỡng HSG
    • Thư Viện Đề Thi
    • Bạn có biết
      • Khám phá thế giới hóa học
      • Hóa học vui – cười
      • Chuyện kể về các nhà hóa học
      • Chuyện kể các nguyên tố hóa học
  • Sinh viên – Giáo viên
    • Giáo án Hoá
    • Ôn Thi Cao Học
    • Phương Pháp Dạy – Học
    • Thiết kế – sáng tạo bài giảng
    • Luận văn – NCKH
    • Kinh Nghiệm Giảng Dạy
    • Kiến Thức Chuyên Ngành
    • Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
  • Hóa học đời sống
    • Hóa học và thực phẩm
    • Hóa học và mỹ phẩm
    • Hóa học và môi trường
    • Hóa học và dược phẩm
    • Hóa học và công nghệ
  • Thông Tin
    • Dự án
    • Về chúng tôi
    • Thư mời cộng tác
  • Facebook
You are here: Home / Hoa Hoc 360 / Nguyên tố vi lượng với phụ nữ mang thai

Nguyên tố vi lượng với phụ nữ mang thai

27/07/2012 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh Leave a Comment

 

Cơ thể người được cấu tạo bởi gần 60 nguyên tố, ngoài những nguyên tốt chính chiếm phần lớn trong cơ thể như cacbon, oxi, hidro, clo, kali… còn có số ít hàm lượng nguyên tố khác, nồng độ dưới 0,005% những nguyên tố này gọi là nguyên tố vi lượng.

Những nguyên tố này chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng lại rất cần thiết cho cơ thể của chúng ta, trong khi đó một chế độ ăn bình thường khó cung cấp đủ cho thai phụ những chất này.

Có 14 nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cơ thể người, đặc biệt là cần thiết cho sự hình thành và phát triển của thai nhi đó là: sắt, iot, đồng, kẽm, mangan, coban, selen, molipden, crom, niken, flu – or, vanadi, silic, thạch tín. Nếu cơ thể mẹ không cung cấp đủ nguyên tố vi lượng cần thiết thì sẽ gây ảnh hưởng xấu cho cả mẹ và thai nhi, có thể dẫn đến thai nhi dị tật hoặc xảy thai hoặc chết non. Trong đó đặc biệt là sắt, kẽm, mangan,canxi, crom.

Chất sắt (Fe): Nhu cầu năng lượng và các dưỡng chất ở phụ nữ mang thai luôn cao hơn lúc bình thường, nhằm giúp bà mẹ nuôi thai một cách tốt nhất, một trong các vi chất mà nhu cầu tăng nhiều trong thai kỳ là chất sắt. Do tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt ở các thai phụ hiện nay khá cao từ 30-50% và cũng vì những hậu quả không tốt của tình trạng thiếu máu này như: kết quả thai kỳ kém, trẻ sinh ra nhẹ cân, tỷ lệ mắc các bệnh lý nhiễm trùng và tỷ lệ tử vong cao ở cả mẹ lẫn con, nên sắt là vi chất duy nhất mà Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên bổ sung ở dạng thuốc cho tất cả các thai phụ trong suốt thai kỳ.

Sắt có nhiều trong các loại thịt, huyết, gan, tim, lòng đỏ trứng, các loại rau xanh đậm… bữa ăn giàu vitamin C (có nhiều rau, trái cây có vị chua) sẽ giúp ruột hấp thu tốt chất sắt. Đối với người bình thường, chỉ cần chú ý ăn đa dạng là có thể nhận đủ lượng sắt cần thiết cho cơ thể, riêng đối với phụ nữ mang thai, do nhu cầu tăng cao và để bảo đảm sức khỏe cho cả mẹ lẫn con, cần được bổ sung thêm 30 -60mg chất sắt hàng ngày ở dạng thuốc uống ngay khi biết có thai cho đến khi chấm dứt thai kỳ (suốt 8-9 tháng). Hiện tại, trên thị trường có khá nhiều sản phẩm sắt cộng với acid folic, phục vụ cho việc bổ sung cho thai phụ như viên sắt- acid folic của chương trình quốc gia.

Chất kẽm (Zn): Rất cần thiết trong việc tạo ra các enzym để chuyển hóa glucid, lipid, protein, acid nucléic. Ở những trẻ suy dinh dưỡng, kẽm còn cần cho việc tổng hợp insulin của tế bào beta tuyến tụy hay sự tạo thành yếu tố miễn dịch của tuyến ức… Việc thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng tới hoóc môn tăng trưởng, gây chuyển dạ kéo dài hoặc chảy máu lúc sổ rau do có thể làm quá trình tổng hợp chất prostaglandins bị suy giảm. Thiếu kẽm cũng có thể gây sẩy thai tự nhiên do bong rau non, dị dạng bẩm sinh và suy dinh dưỡng bào thai, thai vô sọ, nứt đốt sống. Bên cạnh việc dùng thuốc có thể bổ sung kẽm bằng thực phẩm thông qua chế độ ăn, những thực phẩm chứa nhiều kẽm là: thịt gà, thịt cóc, nhộng tằm, thịt lợn, thịt bò và hải sản… Chỉ sử dụng thuốc bổ sung kẽm khi có chỉ định của bác sĩ.

Nguyên tố vi lượng với phụ nữ mang thai - 1
Việc bổ sung sự thiếu hụt những nguyên tố vi lượng này cần được thực hiện một cách có hệ thống và sớm, ngay từ khi người phụ nữ bắt đầu mang thai. (Ảnh minh họa)

Mangan (Mn): Có tác dụng chống oxy hóa, kiểm soát những gốc acid tự do trong sự chuyển hóa năng lượng. Nó còn góp phần vào sự tổng hợp protein, chuyển hóa đường glucid và chất béo bằng cách hoạt hóa các men lipaza, chuyển hóa cholesterol và các hoóc môn sinh dục. Bên cạnh đó thiếu mangan sẽ ảnh hưởng tới sự hình thành chất hữu cơ của xương, dẫn tới xương bị dị hình như xương sụn không đủ dinh dưỡng, xương ống dày và ngắn, túi tai và xương tai không thể canxi hóa hết. Trẻ sơ sinh bị thiếu mangan có thể bị ngất hoặc động kinh, thời kì mang thai thiếu mangan thì có thể sẽ bị sảy thai mang tính quy luật, lượng sữa tiết ra sau khi sinh sẽ ít. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, lượng mangan chứa trong thịt, sữa và các sản phẩm tinh chế từ ngũ cốc thấp trong khi đó trong ngũ cốc thô, quả cứng, thực vật có nguồn gốc đậu và những loại rau lá xanh tương đối cao…

Crom (Cr): Có vai trò điều hòa tác dụng của insulin trên cơ thể. Nếu thiếu hụt crom kéo dài 5 tháng, cơ thể sẽ không dung nạp được chất hydrat cacbon, người gầy đi, trí óc lẫn lộn, mất đi sự điều hòa, bị dị cảm, tổn thương thần kinh ngoại vi. Bệnh sẽ hết nếu được bổ sung Cr dùng ngoài đường tiêu hóa. Cho nên để cung cấp crom cần thiết cho cơ thể chủ yếu chú ý bổ sung thực phẩm tự nhiên có nhiều crom. Thực phẩm chứa nhiều crom như gạo xay, bánh đại mạch, đường đỏ. Ngoài ra, thịt nạc, cá, tôm, các loại trứng, cà rô, đậu cũng có hàm lượng crom nhất định.

Iot: Chiếm hàm lượng rất ít trong cơ thể người. Iot phát huy hiệu ứng sinh lý thông qua sự hợp thành hoocmon tuyến giáp trạng. Thiếu iốt ở thai phụ dễ xảy ra sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non, nếu thiếu iốt nặng trong giai đoạn mang thai trẻ sinh ra sẽ bị đần độn, câm, điếc và các dị tật bẩm sinh khác. Sử dụng muối iốt thay cho muối thường trong ăn uống và chế biến thức ăn hàng ngày là đủ nhu cầu iốt cho cơ thể và phòng được các rối loạn do thiếu iốt. Dùng muối iốt thường xuyên hàng ngày không ảnh hưởng đến sức khỏe vì lượng iốt dư sẽ được thải ra ngoài theo nước tiểu.

Việc bổ sung sự thiếu hụt những nguyên tố vi lượng này cần được thực hiện một cách có hệ thống và sớm, ngay từ khi người phụ nữ bắt đầu mang thai. Tuy nhiên, nếu chỉ cung cấp một chất đơn thuần, cơ thể có thể thiếu hụt chất khác. Chẳng hạn, một thai phụ cần 3 mg sắt mỗi ngày, thường được bác sĩ cho dùng viên sắt vì phần lớn trong số họ bị thiếu máu trước sinh. Nhưng việc bổ sung sắt sẽ làm cơ thể giảm hấp thu kẽm. Vì vậy, khi bổ sung một nguyên tố, nên điều chỉnh bằng cách cung cấp nhiều nguyên tố khác đi kèm. Các sản phẩm có trên thị trường hiện nay đều là dạng tổng hợp của nhiều nguyên tố.

 

Filed Under: Hoa Hoc 360 Tagged With: nguyên tố, sức khỏe, vi lượng

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Primary Sidebar

Điền địa chỉ email để nhận tin tức hàng ngày:

DANH MỤC

TỪ KHÓA HAY

bai tap nang cao bai tap trac nghiem bai tap tu luan bài giảng bài tập hóa học bảng tuần hoàn công nghệ thông tin Day day hoc intel de thi ebook ebook hóa học hoa hoa 10 hoa 11 hoa 12 hoc hóa chất hóa dược hóa học hóa học việt nam hóa học xanh hóa học đời sống kinh nghiem day hoc liên kết hóa học luyện thi ly luan nguyên tử nhận thức phan mem day hoc phan ung õi hoa - khu phim thi nghiem phim thi nghiem hoa hoc phuong phap day hoc phuong phap day hoc tich cuc phương pháp phản ứng sách hóa học thi dai hoc thiet ke bai giang thi thử tu lieu day hoc tu lieu day hoc hoa hoc ̜hóa học ứng dụng

Copyright © 2026 · Tạp chí Hóa Học