Khi giáo viên biểu diễn thí nghiệm, thí nghiệm là nguồn thông tin đối với học sinh, lời nói của giáo viên không phải nguồn thông tin mà hướng dẫn sự quan sát và chỉ đạo sự suy nghĩ của các em để đi tới kết luận đúng đắn, hợp lý và qua đó mà lĩnh hội được kiến thức.
a. Các cách phối hợp lời giảng của giáo viên với việc biểu diễn thí nghiệm.
Cách 1: Học sinh quan sát trực tiếp và tự lực rút ra kết luận, giáo viên dùng lời nói hướng dẫn học sinh quan sát để rút ra kết luận.
Cách phối hợp lời giảng của giáo viên với biểu diễn thí nghiệm này áp dụng cho các đối tượng và quá trình đơn giản, có thể rút ra kết luận nhờ quan sát trực tiếp. VÍ dụ, khi nghiên cứu tính chất bề ngoài của các đối tượng như màu sắc, trạng thái vật lí, hình dạng các chất.
Cách 2: Học sinh quan sát các sự vật, quá trình và theo lời nói hướng của giáo viên, họ tái hiện các kiến thức cũ có liên quan, trình bày ra được và biện luận giải thích những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà họ không thể nhận thấy được trong quá trình quan sát trực tiếp.
Ở đây lời nói của giáo viên có 3 chức năng:
– Hướng dẫn sự quan sát trực tiếp của học sinh.
– Gợi ý cho học sinh tái hiện kiến thức cũ có liên quan để giải thích hiện tượng.
– Hướng dẫn học sinh tự giải thích hiện tượng và tự đi tới kết luận.
Cách 3: Học sinh thu được kiến thức về các hiện tượng hoặc tính chất của sự vật trước tiên từ lời giáo viên sau đó giáo viên biểu diễn thí nghiệm minh hoạ (khẳng định hoặc cụ thể hoá) những kết luận vừa thông báo cho học sinh.
Ở đây lời nói giáo viên là nguồn thông tin chính yếu, còn thí nghiệm là nguồn thông tin hỗ trợ, minh hoạ. Cách thứ 3 này là nghịch đảo của cách thứ nhất. Cách này được áp dụng khi các hiện tượng là đơn giản (như ở cách thứ nhất).
Cách 4: Giáo viên mô tả các sự vật và quá trình, giáo viên nhắc lại những kiến thức đã học có liên quan và giải thích bản chất của hiện tượng, rồi kết luận về những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà học sinh không thể nhận thấy được trong quan sát trực tiếp. Sau đó thầy biểu diễn thí nghiệm minh hoạ lời vừa giảng.
b. Nhận xét và lưu ý các cách kết hợp lời giảng của giáo viên và biểu diễn thí nghiệm.
– Cách 1 và 2 đều mang tính chất tích cực, tích chất nhận thức của học sinh là chủ động. Nhờ lời nói hướng dẫn của giáo viên, học sinh được đặt vào điều kiện mà ở mức độ đáng kể họ phải độc lập giành lấy kién thức về các chất và hiện tượng trên cơ sở quan sát thí nghiệm. Vì thế các cách 1 và 2 thuộc về phương pháp nghiên cứu trong dạy học. Sự khác biệt giữa chúng là mức độ phức tạp, khó khăn của nội dung nghiên cứu. Ở đây thí nghiệm là nguồn thông tin, lời nói của thầy có chức năng hướng dẫn.
Cách 3 và chỉ đòi hỏi ở học sinh hoạt động nhận thức thụ động; thí nghiệm biểu diễn chỉ để minh hoạ lời giảng của thầy trước đó. Vì thế cách 3 và thuộc phương pháp minh hoạ trong dạy học. Sự khác biệt giữa cách 3 và cũng là sự khác biệt về mức độ phức tạp khó khăn của nội dung nghiên cứu.
Cách 1 và cách 3 cũng như cách 2 và cách 4 giống nhau về đối tượng nghiên cứu nhưng ngược lại về thứ tự trước sau của thí nghiệm biểu diễn và lời nói giáo viên.
– Khi sử dụng các cách phối hợp trên đây giáo viên cần căn cứ vào tính chất của nội dung nghiên cứu (đơn giản hay phức tạp), trình độ lĩnh hội cần đạt tới (tích cực chủ động hay chỉ cần tái hiện, bắt chước) và sự chuẩn bị của học sinh.
Với nội dung nghiên cứu đơn giản thì nên sử dụng cách 3, với nội dng phức tạp nên sử dụng cách 4. Nếu học sinh đã có kỹ năng quan sát và suy luận tốt, nếu có yêu cầu cao về sự phát triển tính tự lực của trò và suy luận tốt, nếu có điều kiện thời gian thì nên sử dụng các cách 1 và 2 tuỳ theo mức độ phức tạp của nội dung nghiên cứu.
– Bốn cách kết hợp lời nói với thí nghiệm biểu diễn của giáo viên có thể áp dụng cho cả trường hợp giáo viên biểu diễn các đồ dùng trực quan và phương tiện nghe nhìn.
Leave a Reply