
Vào khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khi bắt đầu hệ thống hoá về các kiến thức hoá học, dựa vào nguồn gốc của chất các nhà khoa học đã dùng khái niệm hợp chất hữu cơ để chỉ các hợp chất được tạo ra từ cơ thể các sinh vật nhằm phân biệt với các hợp chất vô cơ được tạo ra từ các khoáng vật.
Thời đó người ta cho rằng hợp chất hữu cơ chỉ được tạo thành dưới tác dụng của “lực sống” trong cơ thể các sinh vật. Vì vậy không ai nghĩ đến việc tổng hợp chúng.
Năm 1828, F.Vô-lơ tổng hợp được ure (1 chất có trong nước tiểu) bằng cách đun nóng amoni xianat trong bình thuỷ tinh, mà như ông nói “không cần đến con mèo, con chó hay con lạc đà nào cả”. Phương trình hoá học như sau:
NH4OCN -> H2N – CO – NH2
Sau đó, vào năm 1845, H.Côn-be tổng hợp được axit axetic, năm 1862, Bec-tơ-lô tổng hợp được benzen từ axetilen, sau đó có nhiều hợp chất hữu cơ khác cũng được tổng hợp mà không cần đến “lực sống”. Những thành công đó đã làm thay đổi quan niệm về hợp chất hữu cơ và góp phần làm cho hoá học hữu cơ trở thành một ngành khoa học thực sự.
Trong cuốn sách xuất ban năm 1861, A.Kê-ku-lê đã đưa ra một định nghĩa hiện nay vẫn sử dụng về hoá học hữu cơ “là khoa học nghiên cứu các hợp chất của cacbon”.
Leave a Reply