Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đã không còn xa lạ với nhiều giáo viên. Từ thành công của một số nhà giáo mở đường, từ năm học 2010 – 2011, bộ Giáo dục và đào tạo chính thức phổ biến cách làm này như một trong những công cụ để đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường.
|
Thầy giáo Hoàng Đức Huy đang đứng lớp Ảnh: Như Thuần
|
Một trong số ít người đầu tiên sử dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy thành công là ông Hoàng Đức Huy, hiện là giáo viên văn trường THPT tư thục Nguyễn Khuyến, TP.HCM.
Từ bản đồ tư duy…
“Những năm học trước, môn văn là môn mà tôi ghét nhất. Vì nó là môn tôi học rất kém, cũng là môn có những tiết giảng buồn ngủ nhất trong những môn học của tôi…”, đó là tâm sự của học sinh Bùi Thị Thảo, lớp 9C1 trường tư thục Nguyễn Khuyến.
Trao đổi với phóng viên SGTT, ông Hoàng Đức Huy cho biết, trước nay phần lớn học sinh học văn theo kiểu đối phó do cách dạy thuần tuý đọc – chép. 90% giáo viên cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà bằng hình thức trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa. Và phần đông học sinh sẽ viện dẫn sách tham khảo, hoặc tệ hơn nữa là chép bài bạn mà không có một chút động não. Sau một thời gian nghiền ngẫm lý thuyết Mind map (bản đồ tư duy) của Tony Buzan, ông Huy – lúc này đang dạy tại trung tâm Giáo dục thường xuyên quận 4, mạnh dạn đưa phương pháp này vào giảng dạy học sinh. Mind map là phương pháp tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh.
| Sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình… có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS và THPT. Bản đồ tư duy có thể vận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế bản đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy… Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm Mind map cho giáo viên, học sinh sử dụng.
TS Trần Đình Châu – Dự án Phát triển giáo dục THCS II – bộ GD & ĐT |
Ông Huy cho biết, thời gian đầu việc “vẽ sơ đồ” bài văn chỉ được thầy triển khai sau khi kết thúc bài học. Trong bài tập về nhà, nhiệm vụ của trò là lên mạng tìm tư liệu và suy nghĩ, vẽ lại theo cách hiểu của mình bằng sơ đồ. Vào tiết học kế tiếp, các em sẽ nộp bài và nhận xét bài của nhau trước khi thầy nhận xét và chấm điểm. Khi học sinh đã quen với cách “vẽ sơ đồ” này, bài học sẽ diễn ra theo trình tự: bước một, học sinh nghiên cứu và soạn bài trước tại nhà; bước hai, thầy giảng và phân tích theo bản đồ tư duy của thầy, các em so sánh với sơ đồ của mình, vẽ lại những ý sai; bước ba, chia nhóm ba em thể hiện lại bài học, bổ sung những ý mới phát hiện.
Đến “những chiếc nón kỳ diệu”
Thường xuyên tiếp cận những học sinh yếu kém tại các trường tư thục, trung tâm giáo dục thường xuyên, thầy giáo Hoàng Đức Huy luôn trăn trở với câu hỏi nhức nhối của ngành giáo dục là làm thế nào giúp các em chán học, học yếu môn văn trở nên yêu thích và từ đó học khá môn này? Từ thành công của việc vận dụng bản đồ tư duy, ông Huy đã nghiên cứu tiếp đề tài “Dạy văn bằng sáu chiếc nón tư duy”, ứng dụng từ nguyên lý 5W1H (six thinking hats) độc đáo do nhà kinh tế học Edward de Bono phát triển.
Bằng các câu hỏi dạng 5W1H kết hợp với bản đồ tư duy, nội dung tổng thể của bài học được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ trong đó các đối tượng được liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được học sinh ghi nhớ dễ dàng và nhanh hơn. Theo ông Huy, phương pháp này đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học là giúp học sinh tự khám phá các kiến thức về tác phẩm văn học qua việc tự tìm tòi tài liệu; học sinh biết chia sẻ những gì tìm được với các bạn; biết đoàn kết, giúp đỡ nhau thông qua làm việc nhóm; biết suy nghĩ độc lập qua tự tạo một bản đồ tư duy… “Chính sức liên tưởng mạnh mẽ của biểu tượng sáu chiếc nón đã kích thích hứng thú học tập của các em, không chỉ môn văn mà tất cả các môn học khác đều có thể áp dụng”, ông Huy chia sẻ. Về cách dạy học mới này, Nguyễn Nhật Trường, học sinh lớp 9C1 trường tư thục Nguyễn Khuyến nhận xét: “Phương pháp này làm chúng em rất thích thú. Sau mỗi tiết học, em có thể xác định trọng tâm của bài và nắm được cái hay cái đẹp về nội dung, nghệ thuật của từng văn bản một cách cô đọng nhất”.
Tuy nhiên, mỗi phương pháp mới dù hiện đại vẫn có những hạn chế nhất định. Bà Phạm Thị Mai Lựu, giáo viên công nghệ trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, cũng là một trong những giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy vào dạy học hiệu quả cho biết, trung tâm Thông tin và chương trình giáo dục của sở Giáo dục và đào tạo TP.HCM đã triển khai tập huấn sử dụng các phần mềm ứng dụng dạy học, trong đó có bản đồ tư duy, rộng rãi đến các trường, nhưng còn khá nhiều giáo viên ngại áp dụng các phương pháp giảng dạy mới. Có thể do những khó khăn ban đầu như xây dựng thói quen chủ động cho học sinh, sợ không theo kịp chương trình… Đặc biệt, hạn chế lớn nhất của phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (nếu thiết kế trên phần mềm) là khi chiếu lên bảng thì chữ rất nhỏ, do đó chỉ thuận lợi với học sinh trung học.
Leave a Reply