• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Thư mời cộng tác
  • Về chúng tôi

Tạp chí hóa học

Nơi gặp gỡ, trao đổi của những bạn yêu hóa học.

  • Home
  • Học Sinh
    • Chuyên Đề Hóa Học
      • Hóa học 10
      • Hóa học 11
      • Hóa học 12
      • Hóa học 8 – 9
      • Luyện thi vào 10 THPT
      • Luyện thi ĐH – CĐ
      • Bồi dưỡng HSG
    • Thư Viện Đề Thi
    • Bạn có biết
      • Khám phá thế giới hóa học
      • Hóa học vui – cười
      • Chuyện kể về các nhà hóa học
      • Chuyện kể các nguyên tố hóa học
  • Sinh viên – Giáo viên
    • Giáo án Hoá
    • Ôn Thi Cao Học
    • Phương Pháp Dạy – Học
    • Thiết kế – sáng tạo bài giảng
    • Luận văn – NCKH
    • Kinh Nghiệm Giảng Dạy
    • Kiến Thức Chuyên Ngành
    • Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
  • Hóa học đời sống
    • Hóa học và thực phẩm
    • Hóa học và mỹ phẩm
    • Hóa học và môi trường
    • Hóa học và dược phẩm
    • Hóa học và công nghệ
  • Thông Tin
    • Dự án
    • Về chúng tôi
    • Thư mời cộng tác
  • Facebook
You are here: Home / Hoa Hoc 360 / Vũ khí hạt nhân

Vũ khí hạt nhân

12/08/2011 By Thầy Ngô Xuân Quỳnh 1 Comment

Vũ khí hạt nhân (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khí mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra. Một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào. Vũ khí có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố. Nếu sức công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thì có thể phá hủy một vùng với bán kính 100 – 160 km.

Cho đến nay, mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng trong Đệ nhị thế chiến: quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945 có tên là Little Boy và được làm từ uranium; quả sau có tên là Fat Man và được ném xuống Nagasaki, cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó, được làm từ plutonium.

Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhân sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhân, chủ yếu là do các quốc gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan.

Các nước hiện nay công bố có vũ khí hạt nhân là Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Thêm vào đó, Israel có nhiều dấu hiệu chứng tỏ sở hữu bom hạt nhân mặc dù chưa bao giờ chính thức thừa nhận. Gần đây, CHDCND Triều Tiên cũng công bố đã chế tạo được vũ khí hạt nhân. Ukraina cũng có thể sở hữu một quả bom hạt nhân cũ từ thời Liên Xô do sai lầm của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Việc phi quân sự hóa năng lượng hạt nhân đã được đề xuất cho rất nhiều các ứng dụng dân sự.

Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản vào năm 1945 cao đến 18 km.

Các loại vũ khí hạt nhân

Thiết kế cơ bản của hai loại bom nguyên tử.Vũ khí hạt nhân đơn giản nhất lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn, trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ, giải thoát một năng lượng khổng lồ. Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử, còn gọi là bom A.


Các loại vũ khí cao cấp hơn thì lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc lithium, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng trăm lần so với bom nguyên tử.

 

Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân, sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như đồng hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất; những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Về lý thuyết, các vũ khí phản vật chất, trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật chất và phản vật chất, không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân.

Thiết kế cơ bản của hai loại bom nguyên tử
Năng lượng của vụ nổ hạt nhân
Năng lượng này được xác định theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein: E = mc2

Trong đó:
E là năng lượng có thể được giải phóng
m là khối lượng vật chất tham gia phản ứng
c là vận tốc ánh sáng trong chân không
Ảnh hưởng của vụ nổ hạt nhân
Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn loại sau đây:

Áp lực — 40-60% tổng năng lượng
Bức xạ nhiệt — 30-50% tổng năng lượng
Bức xạ ion — 5% tổng năng lượng
Bức xạ dư (bụi phóng xạ) — 5-10% tổng năng lượng
Lượng năng lượng giải thoát của từng loại phụ thuộc vào thiết kế của vũ khí và môi trường mà vụ nổ hạt nhân xảy ra. Bức xạ dư là năng lượng được giải thoát sau vụ nổ, trong khi các loại khác thì được giải thoát ngay lập tức.

Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân được đo bằng kiloton hoặc megaton – tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen). Vũ khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton, trong khi vụ nổ bom khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton. Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức công phá khác nhau, từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy Crockett của Hoa Kỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liên Xô (bom này chỉ đưa ra với mục đích chính trị chứ khó thao tác được).


Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá hủy giống như các vũ khí quy ước. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm. Tàn phá chủ yếu của bom hạt nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình hạt nhân giải thoát năng lượng mà liên quan đến sức mạnh của vụ nổ.

Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. Bức xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất, do đó, bom càng lớn thì hiệu ứng phá hủy do nhiệt càng mạnh. Bức xạ ion bị suy giảm nhanh chóng trong không khí, nên nó chỉ nguy hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ. Áp lực suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng chậm hơn bức xạ ion

Bom hấp dẫn

Không một vũ khí hạt nhân nào đủ tiêu chuẩn là bom gỗ – đó là từ lóng mà quân đội Hoa Kỳ dùng để chỉ một loại bom hoàn thiện, không phải bảo hành sửa chữa, không nguy hiểm dưới mọi điều kiện trước khi cho nổ. Bom hấp dẫn là loại bom được thiết kế để được thả xuống từ các máy bay. Yêu cầu của loại bom này là phải chịu được các dao động và thay đổi về nhiệt độ và áp suất của không khí. Lúc đầu, các vũ khí thường có một cái chốt an toàn ở trạng thái đóng trong quá trình bay. Chúng phải thỏa mãn các yêu cầu về độ ổn định để tránh các vụ nổ hoặc rơi bất ngờ có thể xảy ra. Rất nhiều loại vũ khí có một thiết bị đóng ngắt để khởi động quá trình nổ. Các vũ khí hạt nhân của Mỹ thỏa mãn các tiêu chuẩn an toàn nói trên sẽ được ký hiệu bởi chữ cái “B”, và tiếp theo (không có dấu nối) là các ký hiệu vật lý cần thiết. Ví dụ bom B61 là một loại bom như vậy, được Mỹ chế tạo rất nhiều và lưu trữ trong các kho chứa đạn dược trong nhiều thập kỷ.

Có nhiều kỹ thuật ném bom như thả bom tự do trong không khí, thả bom bằng dù với cơ chế cho nổ chậm để máy bay ném bom có thời gian thoát khỏi vùng nguy hiểm khi bom nổ.

Những quả bom hấp dẫn đầu tiên chỉ có thể được mang bằng pháo đài bay B-29. Thế hệ bom tiếp theo vẫn rất lớn và nặng, chỉ có các pháo đài bay B-52, máy bay ném bom lớn V mới có thể mang được. Nhưng vào giữa những năm 1950, người ta có thể chế tạo được các vũ khí nhỏ, nhẹ hơn và có thể được mang bằng các máy bay chiến đấu kiêm ném bom bình thường.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/c2/Fat_man.jpgNhững quả bom hạt nhân đầu tiên, giống như Fat Man, lớn hơn và phức tạp hơn bom hấp dẫn.

Tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân

Các tên lửa đạn đạo là các tên lửa có chất nổ, được máy tính hoặc người điều khiển, sau khi phóng thì chúng chỉ chịu ảnh hưởng của lực hấp dẫn và lực cản của không khí gây ra. Tên lửa đạn đạo dùng để mang các đầu đạn với tầm xa từ mười cho đến vài trăm km. Các tên lửa đạn đạo liên lục địa hoặc các tên lửa đạn đạo vượt đại châu được phóng từ các tàu ngầm có thể theo các lộ trình dưới quỹ đạo hoặc quỹ đạo với tầm xa xuyên lục địa. Các tên lửa đầu tiên chỉ có thể mang một đầu đạn, thường với sức công phá khoảng megaton. Các tên lửa như vậy yêu cầu phải có khả năng hoạt động với tính chính xác rất cao để đảm bảo phá hủy mục tiêu.

Từ những năm 1970, các tên lửa đạn đạo hiện đại được phát triển với khả năng nhắm tới mục tiêu với độ chính xác cao hơn nhiều. Điều này làm cho một tên lửa, trong một lần phóng, có thể mang đến hơn một chục đầu đạn và nhắm tới các mục tiêu độc lập với nhau. Mỗi đầu đạn có thể có sức công phá vài kiloton. Đây là một điểm mạnh quan trọng của tên lửa đạn đạo có nhiều đầu đạn. Nó không chỉ cho phép phá hủy các mục tiêu khác nhau, độc lập với nhau mà còn có thể cùng công phá một mục tiêu theo kiểu bủa vây hoặc có thể tác chiến với các vũ khí chiến thuật khác để vô hiệu hóa tất cả các hệ thống phòng thủ của đối phương. Vào những năm 1970, Liên Xô công bố kế hoạch nhằm chế tạo ra các tên lửa đạn đạo nhiều đầu đạn. Số tên lửa như vậy đủ lớn để cứ mỗi 19 giây đến 3 phút thì phóng một tên lửa tới các thành phố lớn của nước Mỹ, và việc đó có thể được thực hiện liên tục trong một giờ đồng hồ.

Tên lửa mang đầu đạn ở trong các kho lưu trữ đạn được của Hoa Kỳ được ký hiệu bằng chữ “W” ở đầu, ví dụ W61 có các tính chất như B61 nói ở trên nhưng có các yêu cầu về môi trường khác hẳn.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0f/W87_MIRV.jpg/764px-W87_MIRV.jpg

Tên lửa đạn đạo có thể mang nhiều đầu đạn hạt nhân trong một lần phóng.

Tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân

Tên lửa hành trình có thể mang đầu đạn hạt nhân, bay ở độ cao rất thấp, khoảng cách ngắn và được dẫn đường bởi các hệ thống điều khiển bên trong hoặc bên ngoài (như hệ thống định vị toàn cầu – GPS) làm cho chúng khó có thể bị đối phương phát hiện và ngăn chặn. Tên lửa hành trình mang được trọng lượng nhỏ hơn tên lửa đạn đạo rất nhiều nên sức công phá của đầu đạn mà nó mang thường là nhỏ. Tên lửa hành trình không thể mang nhiều đầu đạn nên không thể công phá nhiều mục tiêu. Mỗi tên lửa như vậy chỉ mang một đầu đạn mà thôi. Tuy nhiên, do gọn nhẹ nên tên lửa hành trình quy ước có thể được phóng đi từ các bệ phóng di động trên mặt đất, từ các chiến hạm hoặc từ các máy bay chiến đấu. Tên của các đầu đạn dành cho tên lửa hành trình của Mỹ không khác biệt với tên của các đầu đạn dành cho tên lửa đạn đạo.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/55/Tomahawk_Block_IV_cruise_missile.jpg/800px-Tomahawk_Block_IV_cruise_missile.jpg

Tên lửa hành trình có tầm tác dụng ngắn hơn tên lửa đạn đạo xuyên lục địa nhưng rất khó bị đối phương phát hiện và ngăn chặn

Lịch sử vũ khí hạt nhân

Những vũ khí hạt nhân đầu tiên được Hoa Kỳ chế tạo cùng với sự giúp đỡ của Anh Quốc trong Đệ nhị thế chiến, đó là một phần của dự án Manhattan tối mật. Lúc đầu, việc chế tạo vũ khí hạt nhân là sự lo sợ Đức Quốc xã có thể chế tạo và sử dụng trước quân đội đồng minh. Nhưng cuối cùng thì hai thành phố của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki lại là nơi chịu sức tàn phá của những quả bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1945. Liên Xô chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào năm 1949. Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển vũ khí hạt nhân nhiệt hạch vào những năm giữa của thập niên 1950. Việc phát minh ra các tên lửa hoạt động ổn định vào những năm 1960 đã làm cho khả năng mang các vũ khí hạt nhân đến bất kỳ nơi nào trên thế giới trong một thời gian ngắn trở thành hiện thực. Hai siêu cường của chiến tranh Lạnh đã chấp nhận một chiến dịch nhằm hạn chế việc chạy đua vũ khí hạt nhân nhằm duy trì một nền hòa bình mong manh lúc đó.

Vũ khí hạt nhân từng là biểu tượng cho sức mạnh quân sự và sức mạnh quốc gia. Việc thử nghiệm hạt nhân thường để kiểm tra các thiết kế mới cũng như là gửi các thông điệp chính trị. Một số quốc gia khác cũng phát triển vũ khí hạt nhân trong thời gian này, đó là Anh Quốc, Pháp, Trung Quốc. Năm thành viên của “câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân” đồng ý một thỏa hiệp hạn chế việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở các quốc gia khác mặc dù có ít nhất hai nước (Ấn Độ, Nam Phi) đã chế tạo thành công và một nước (Israel) có thể đã phát triển vũ khí hạt nhân vào thời điểm đó. Vào đầu những năm 1990, nước kế thừa Liên Xô trước đây là nước Nga cùng với Hoa Kỳ cam kết giảm số đầu đạn hạt nhân dự trữ để gia tăng sự ổn định quốc tế. Mặc dù vậy, việc phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục. Pakistan thử nghiệm vũ khí đầu tiên của họ vào năm 1998, CHDCND Triều Tiên công bố đã phát triển vũ khí hạt nhân vào năm 2004. Vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề trọng tâm của các căng thẳng về chính trị quốc tế và vẫn đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề xã hội từ khi nó được khởi đầu từ những năm 1940. Vũ khí hạt nhân thường được coi là biểu tượng phi thường của con người trong việc sử dụng sức mạnh của tự nhiên để hủy diệt con người.

Sở hữu, kiểm soát và luật pháp về vũ khí hạt nhân

Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhân sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhân, chủ yếu là do các quốc gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan.

Hiện có một hiệp ước quốc tế để chống việc phổ biến vũ khí hạt nhân là Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, hay được biết đến với tên NPT ( viết tắt của tên tiếng Anh: Nuclear Non-Proliferation Treaty).

Các nước hiện nay công bố đang sở hữu vũ khí hạt nhân là Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và CHDCND Triều Tiên. Thêm vào đó, Israel luôn được cộng đồng quốc tế cho là sở hữu bom hạt nhân mặc dù nước này chưa bao giờ chính thức khẳng định hay phủ định. Iran và Syria bị Hoa Kỳ cáo buộc là có sở hữu vũ khí hạt nhân.

Có bốn quốc gia từng sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng đã từ bỏ. Kazakhstan, Belarus và Ukraina từng sở hữu một số lớn đầu đạn hạt nhân cũ từ thời Liên Xô, tuy nhiên cả ba quốc gia đã giao nộp lại cho Nga và kí vào NPT. Nam Phi cũng từng sản xuất ít nhất 6 quả bom hạt nhân vào những năm 1980 nhưng đã phá hủy chúng vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước và tham gia NPT.[2]

Có năm quốc gia không tự sở hữu và sản xuất vũ khí hạt nhân nhưng đang được chia sẻ bởi Hoa Kỳ, đó là Bỉ, Đức, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ và Hà Lan. Trước đây, Canada và Hy Lạp cũng tham gia chương trình này. Các quốc gia này được Hoa Kỳ chia sẽ vũ khí hạt nhân (quyền sở hữu vẫn thuộc Hoa Kỳ) để sử dụng cho huấn luyện và tác chiến trong các chiến dịch của NATO.

Cơ quan quốc tế của Liên Hiệp Quốc giám sát các vấn đề liên quan tới vũ khí hạt nhân là Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế.

Các nước có vũ khí hạt nhân

Hiện nay trên thế giới có 9 quốc gia đã cho nổ hay đã dùng vũ khí hạt nhân; 5 quốc gia trong số đó được Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân xem là “các quốc gia có vũ khí hạt nhân”, bao gồm Hoa Kỳ, Nga (trước đó là Liên Xô), Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Pháp và Trung Quốc; 3 nước không ký vào hiệp định này thực hiện các thí nghiệm cho nổ vũ khí hạt nhân: Ấn Độ, Pakistan và Bắc Triều Tiên; quốc gia còn lại là Nam Phi, tuy nhiên quốc gia này đã từ bỏ.

Nhiều người tin là Israel có vũ khí hạt nhân dù quốc gia này không phủ nhận hay xác nhận việc này.[1][2] Iran và Syria đang bị nghi ngờ là có các chương trình sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt, trong đó có chương trình hạt nhân.

Có bốn quốc gia từng sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng đã từ bỏ, đó là Kazakhstan, Belarus, Ukraina và Nam Phi. Kazakhstan, Belarus và Ukraina từng sở hữu một số lớn đầu đạn hạt nhân cũ từ thời Liên Xô, tuy nhiên cả ba quốc gia đã giao nộp lại cho Nga và kí vào NPT.[3][4][5] Nam Phi cũng từng sản xuất một số quả bom hạt nhân vào những năm 1980 và được cho là đã tiến hành một số vụ thử cùng với Isreal nhưng đã phá hủy chúng vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước và tham gia NPT.[6]

Có năm quốc gia không tự sở hữu và sản xuất vũ khí hạt nhân nhưng đang được chia sẻ bởi Hoa Kỳ, đó là Bỉ, Đức, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ và Hà Lan.[7] Trước đây, Canada và Hy Lạp cũng tham gia chương trình này.[8] Các quốc gia này được Hoa Kỳ chia sẻ vũ khí hạt nhân (quyền sở hữu vẫn thuộc Hoa Kỳ) để sử dụng cho huấn luyện và tác chiến trong các chiến dịch của NATO.

Những “ông trùm” trong kho vũ khí hạt nhân chiến lược của Nga

Nước Nga thế hệ Putin, Medvedev hiện đang vặn mình trỗi dậy, dần khôi phục lại vị thế cường quốc và sức mạnh quân sự của mình, mà trong đó, kho vũ khí hạt nhân chiến lược vẫn được coi là con át chủ bài nhằm tạo thế cân bằng với Mỹ và phương Tây.

Kho vũ khí hạt nhân chiến lược của Nga hiện được chiếm lĩnh bởi ba “ông lớn”, đó là: Lực lượng tên lửa chiến lược, Lực lượng Hải quân chiến lược và Lực lượng Không quân chiến lược.

 

Lực lượng tên lửa chiến lược (SMF) là một trong 4 đơn vị chủ chốt cấu thành nên Các Lực lượng Hạt nhân Chiến lược của Liên bang Nga, lực lượng chính sở hữu các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa cơ động và cố định trên mặt đất và các đầu đạn hạt nhân. SMF luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, được coi là “nhân tố” quan trọng trong học thuyết quân sự Nga. Tư lệnh Lực lượng Tên lửa Chiến lược hiện nay là Thượng tướng Nikolai Solovtsov, được bổ nhiệm vào ngày 27/4/2001.

Là một quân chủng riêng biệt của các Lực lượng Vũ trang Nga, ngay từ khi được thành lập vào ngày 17/12/1959, SMF đã không ngừng lớn mạnh về cả số lượng cũng như chất lượng, ngày càng nâng cao khả năng tác chiến của các tổ hợp tên lửa góp phần quan trọng tạo nên thế cân bằng hạt nhân giữa Liên xô và Mỹ trong những năm 70 của thế kỷ trước.

Kể từ sau Hiệp ước cắt giảm các tên lửa tầm trung và tầm ngắn ký kết năm 1987 giữa Liên xô và Mỹ,  Hiệp ước hạn chế và cắt giảm các vũ khí tấn công chiến lược START-I năm 1991 và START-II năm 1993 giữa Nga và Mỹ, quân số cũng như trang bị của SMF đã bị cắt giảm một cách đáng kể.

Theo sắc lệnh của Tổng thống ban hành ngày 24/3/2001, SMF bị hạ cấp từ một quân chủng riêng biệt trong biên chế của các Lực lượng Vũ trang xuống thành một binh chủng độc lập thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Tham mưu.

Hiện tại, chiến lược phát triển dài hạn của SMF là chú trọng tăng số lượng các tổ hợp tên lửa cơ động và đưa vào trang bị các tổ hợp tên lửa Topol-M hiện đại có khả năng xuyên thủng lá chắn tên lửa của Mỹ.

Tính tới đầu năm 2008, Lực lượng Hạt nhân Chiến lược Nga có 682 hệ thống tên lửa chiến lược có khả năng mang 3.100 đầu đạn hạt nhân. So với năm 2007, số lượng các tên lửa tăng thêm 39 quả (5,3%), số lượng đầu đạn tăng 177 đơn vị (5,3 %). Riêng SMF sở hữu 430 tổ hợp tên lửa, có khả năng mang 1605 đầu đạn hạt nhân. Hiện tại, trong trang bị của SMF có 75 tên lửa R-36MUTTH và R-36M2 (SS-18, Satan), 100 tên lửa UR-100NUTTH (SS-19), 201 tổ hợp tên lửa di động trên đường Topol (SS-25), 48 hầm phóng và 6 tổ hợp Topol – M (SS-27) cơ động hiện đại nhất.

Lực lượng Tên lửa Chiến lược bao gồm 3 tập đoàn quân tên lửa: Tập đoàn quân tên lửa phòng vệ số 27 đóng tại Vladimir, Tập đoàn quân tên lửa số 31 (Orenburg), Tập đoàn quân tên lửa phòng vệ số 33 (Omsk). Tập đoàn quân tên lửa số 53 (Chita) đã bị giải thể vào năm 2002.

Các hệ thống tên lửa đạn đạo hiện có trong biên chế của SMF

 SS-18 “Satan” (R-36M)

 Tên lửa R-36MUTTH (RS-20B) và R-36M2 (RS-20V), theo cách gọi của NATO là SS-18 “Satan”, do Phòng Thiết kế Phương Nam đặt tại Dnepropetrovsk (Ukraine) phát triển. R-36MUTTH bắt đầu được triển khai nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1979-1983, còn R-36M2 từ năm 1988-1992. Cả hai loại tên lửa này đều do Nhà máy chế tạo máy Phương Nam sản xuất với 2 tầng nhiên liệu lỏng và có thể mang tới 10 đầu đạn hạt nhân.

https://i1.wp.com/dantri.vcmedia.vn/Uploaded/trangpvt/T9.08/Luc-luong-Ten-lua-Chien-luoc-22908-02.jpg

SS-18 “Satan”là tổ hợp tên lửa cố định, phóng từ hầm phóng, có tầm bắn tối đa là 11.000 km và lượng chất nổ lên đến 8,8 tấn.

Do có thời gian phục vụ từ 25-30 năm theo dự kiến, R-36M2 có thể kéo dài thời gian hoạt động tới khoảng năm 2020. Bởi vậy, trong kế hoạch phát triển của mình, SMF có tính đến việc đưa toàn bộ số tên lửa R-36M2 (khoảng 40 chiếc) vào trạng thái trực chiến.

SS-19 “Stiletto” (UR-100N)

Tên lửa UR-100NUTTH, theo cách gọi của NATO là SS-19, do Nhà máy cơ khí NPO ở Reutov (Ngoại ô Matxcơva) thiết kế trong giai đoạn từ năm 1979–1984, sau đó được Nhà máy sản xuất trang thiết bị M. V. Khrunichev (Matxcơva) chế tạo.

https://i1.wp.com/dantri.vcmedia.vn/Uploaded/trangpvt/T9.08/Luc-luong-Ten-lua-Chien-luoc-22908-03.jpg

SS-19 cũng là một tổ hợp tên lửa cố định với 2 tầng nhiên liệu lỏng và có thể mang 6 đầu đạn hạt nhân. Mỗi quả tên lửa SS-19 có khả năng mang 6 đầu đạn hạt nhân, mỗi đầu đạn có sức công phá 750 kiloton và có thể cùng lúc nhằm vào nhiều mục tiêu khác nhau.

Hiện nay, một số tên lửa SS-19 đã hết hạn sử dụng và bắt đầu được đưa ra khỏi trang bị của SMF, tuy nhiên, sau một loạt cuộc thử nghiệm thành công, SS-19 vẫn có thể kéo dài thời gian phục vụ lên ít nhất 25 năm, vì thế chúng vẫn được giữ lại tiếp tục hoạt động thêm nhiều năm nữa.

SS-25 “Sickle” (RT-2PM Topol)

Tổ hợp tên lửa di dộng trên đường RT-2PM Topol,  còn được NATO gọi là tên lửa SS-25 “Sickle”, do Viện Công nghệ Nhiệt Matxcơva nghiên cứu và triển khai trong giai đoạn từ năm 1985-1992. Các tên lửa SS-25 “Sickle” được sản xuất tại nhà máy chế tạo tên lửa Votkinsk gần Izhevsk cách thủ đô Matxcơva khoảng 1.000 km về phía Đông.

https://i0.wp.com/dantri.vcmedia.vn/Uploaded/trangpvt/T9.08/Luc-luong-Ten-lua-Chien-luoc-22908-04.jpg

SS-25 “Sickle” có 3 tầng đẩy nhiên liệu rắn với tầm bắn 10.000 km và có thể mang một đầu đạn hạt nhân có sức công phá 550 kiloton.

Theo kế hoạch, SS-25 “Sickle” vẫn sẽ có mặt trong nhóm tên lửa chiến lược của Nga cho tới năm 2015 và sau đó sẽ được thay thế bằng thế hệ tên lửa Topol-M hiện đại hơn.

SS-27 (RT-2UTTH Topol-M)

RT-2UTTH Topol-M hay SS-27 (theo cách gọi của NATO) là tổ hợp tên lửa tối tân nhất của Nga hiện nay. SS-27 do Viện Công nghệ Nhiệt Moscow phát triển, là phiên bản cải tiến từ tổ hợp tên lửa đạn đạo xuyên lục địa SS-25 (RT-2PM Topol) trước đó.

SS-27 gồm 2 phiên bản: Loại thứ nhất bắn từ hầm phóng, bắt đầu đượcc triển khai từ năm 1997, cho đến nay đã có 48 quả trong biên chế của SMF. Loại thứ hai được bắn từ xe cơ động chuyên dụng, bắt đầu đưa vào trang bị của SMF từ năm 2006, hiện nay đã có 6 tổ hợp trong biên chế của SMF.

SS-27 (RT-2UTTH Topol-M) bắn từ hầm phóng

SS-27 (RT-2UTTH Topol-M) bắn từ xe cơ động chuyên dụng

Tên lửa SS-27 có 3 tầng đẩy nhiên liệu rắn, đang được phát triển như một tên lửa mang đầu đạn hạt nhân riêng rẽ với tầm bắn lên tới 10.000 km với sức công phá tương đương 500.000 tấn thuốc nổ TNT. Chúng được chế tạo tại nhà máy chế tạo tên lửa Votkinsk.

So với các loại tên lửa mà Nga đã nghiên cứu trước đây, SS-27 có những đặc điểm hết sức ưu việt là thời gian tác chiến ngắn, độ chính xác cao và có thể bảo quản, sử dụng trong thời gian dài. Dự kiến đến năm 2015, đây sẽ là loại tên lửa chủ lực trong hệ thống tên lửa hạt nhân trên bộ của Nga.

* SS là viết tắt của từ Surface-to-surface, có nghĩa đất đối đất

Vào ngày 7.6.2011, Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế (SIPRI) vừa đưa ra báo cáo thống kê cho thấy, hơn 2.000 đầu đạn hạt nhân đã được cắt giảm trong năm qua. Tuy thế, hiện toàn thế giới vẫn còn 20.530 đầu đạn hạt nhân mà phần lớn trong số đó có thời hạn hoạt động không xác định.

Kho dự trữ chiến lược

Thống kê của SIPRI cho biết có 8 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân là Nga, Mỹ, Pháp, Anh, Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ và Israel. Tổng số lượng đầu đạn hạt nhân của 8 quốc gia này là 20.530, trong đó có 5.027 đầu đạn trong trạng thái mở (theo SIPRI trạng thái mở có nghĩa là đầu đạn hạt nhân đã được lắp vào tên lửa, bom trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Hoặc đã biên chế vào một binh chủng đang trực chiến).

So với năm 2009, đã cắt giảm được 2.070 đầu đạn hạt nhân. Nga là nước có số lượng vũ khí hạt nhân lớn nhất: 8.570 đầu đạn dự trữ và 2.427 đầu đạn mở. Mỹ đứng thứ hai với số lượng tương ứng là 6.350 và 2.150. Trong tương lai, kho vũ khí hạt nhân của hai cường quốc này sẽ giảm đáng kể theo Hiệp ước Cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược START 3. Pháp là quốc gia đứng thứ ba khi có 10 đầu đạn hạt nhân dự trữ/290 mở. Con số tương ứng của Anh là 65/160.

 
Máy bay ném bom chiến lược B-1B Lancer – Ảnh: ellsworth.af.mil

Trung Quốc hiện có 200 đầu đạn hạt nhân, Pakistan 110, Ấn Độ 100 và Israel là 80. Đáng chú ý là cả 4 quốc gia này đều không có đầu đạn hạt nhân trong trạng thái mở. Không rõ SIPRI thống kê vũ khí hạt nhân theo tiêu chí nào. Bởi với CHDCND Triều Tiên, theo đánh giá của Cơ quan Nghiên cứu FAS (Mỹ), nước này có 10 đầu đạn hạt nhân, lại không có trong danh sách của SIPRI. Còn Israel chưa bao giờ công nhận mình sở hữu loại vũ khí này, lại có trong thống kê của SIPRI (!?). Hơn thế, cả 4 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nêu trên, vì bí mật quân sự chưa bao giờ công bố số lượng đầu đạn của mình.

Mỹ, Nga, Pháp, Anh tuy có công bố số lượng đầu đạn hạt nhân mở, nhưng lại không cho biết loại vũ khí nào được sử dụng để mang chúng và giấu kín kho dự trữ hạt nhân. Vì thế, không loại trừ trường hợp, số lượng vũ khí hạt nhân dự trữ của thế giới có thể còn lớn hơn so với con số mà SIPRI công bố.


Máy bay ném bom chiến lược Tu-160 – Ảnh: aereo.jor.br

Sự sai lệch của con số 

Vào đầu tháng 6.2011, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố số lượng đầu đạn hạt nhân mở cũng như dự trữ tại quốc gia này và cả của Nga. Thông tin này đươc công bố trên website của Hiệp ước Cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược START 3 (http://www.state.gov/t/avc/rls/164722.htm) mà hai bên ký kết vào năm 2010. Theo đó, Mỹ có 1.800 đầu đạn hạt nhân mở, còn Nga là 1.537. Theo yêu cầu của START 3, khi thời hạn hiệp định chuẩn bị kết thúc (có hiệu lực 10 năm), Nga và Mỹ không được phép có hơn 1.550 đầu đạn hạt nhân mở và 700 đầu đạn hạt nhân tấn công chiến lược.

Hiện Mỹ có 882 đầu đạn hạt nhân tấn công chiến lược trang bị cho tên lửa xuyên lục địa, tàu ngầm hạt nhân và máy bay ném bom tầm xa. Còn Nga hiện có 551 đầu đạn hạt nhân tấn công chiến lược. Kho dự trữ vũ khí hạt nhân của Mỹ là 1.124 đầu đạn và Nga là 865.

Có thể thấy, số lượng đầu đạn hạt nhân mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố ít hơn 1,5 lần so với số liệu mà SIPRI đưa ra. Trong trường hợp này, có thể Nga và Mỹ đã không trung thực khi trao đổi thông tin về đầu đạn hạt nhân của mình cho nhau. Hoặc giả SIPRI đã thống kê không chính xác. Cũng có thể, SIPRI không chỉ thống kê số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược mà còn cả vũ khí hạt nhân chiến thuật. Đáng chú ý là, trước đó vào tháng 5.2010, Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố kho dự trữ vũ khí hạt nhân của Mỹ có 5.113 đầu đạn hạt nhân. Số lượng này cũng thấp hơn con số 8.500 mà SIPRI đưa ra.

Ám ảnh bóng đêm hạt nhân

Dù có thế nào thì hiện Mỹ và Nga đều phải cắt giảm kho vũ khí hạt nhân của mình trước sự giám sát của một ủy ban đặc biệt được thành lập trong khuôn khổ START 3. Nhưng điều đó không có nghĩa là thế giới đang phi hạt nhân hóa. Bởi, các cường quốc không bao giờ từ bỏ vũ khí hạt nhân vì cho rằng, vũ khí hạt nhân chiến lược là sự bảo đảm cho an ninh quốc gia. Ngoại trừ Ấn Độ, Pakistan, Israel, các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân còn lại đều ký hiệp định cam kết không phổ biến loại vũ khí này.

 
Tàu ngầm 667BDRM Delfin – Ảnh: dic.academic.ru/pictures
Tên lửa UGM-133A Trident D-5 – Ảnh: de.valka.cz

“Sẽ là sự thổi phồng nếu cho rằng Mỹ và Nga cắt giảm vũ khí hạt nhân theo START 3 là bước tiến thực sự đến sự giải trừ loại vũ khí này. Bởi cả hai cường quốc này hiện đang có các dự án kéo dài cả chục năm nhằm hiện đại hóa vũ khí hạt nhân và coi đó là chính sách phòng thủ của mình”, Shannon Kile – chuyên gia của SIPRI phát biểu.

Shannon Kile hoàn toàn có cơ sở, bởi Nga mới đây đã thông báo sẽ thiết kế loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mới Topol-M, còn Mỹ tuy không đề cập đến sản xuất loại vũ khí hạt nhân mới, nhưng sẽ nâng cấp loại ĐĐHN W78, bom hạt nhân B61 cũng như kéo dài thời hạn sử dụng loại W76 và các loại đầu đạn hạt nhân khác thêm 30 năm nữa.

Ngoài ra, trong một vài năm qua, Mỹ đang triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa ở nhiều địa điểm cả trong và ngoài nước Mỹ. Hệ thống này về lý thuyết cho phép Mỹ trong trường hợp nếu có chiến tranh sẽ tự bảo vệ mình và triển khai tấn công hạt nhân nhằm phủ đầu đối phương.

Cần nhắc lại rằng, theo tính toán của các chuyên gia quân sự lần gần đây nhất (14.1.2010), nếu chiến tranh hạt nhân diễn ra, chỉ sau 6 phút là cả thế giới chìm trong bóng đêm của hạt nhân.

 

Filed Under: Hoa Hoc 360

About Thầy Ngô Xuân Quỳnh

2). Khóa học của Gia Sư Toán – Lý – Hóa

Reader Interactions

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Primary Sidebar

Điền địa chỉ email để nhận tin tức hàng ngày:

DANH MỤC

TỪ KHÓA HAY

bai tap nang cao bai tap trac nghiem bai tap tu luan bài giảng bài tập hóa học bảng tuần hoàn công nghệ thông tin Day day hoc intel de thi ebook ebook hóa học hoa hoa 10 hoa 11 hoa 12 hoc hóa chất hóa dược hóa học hóa học việt nam hóa học xanh hóa học đời sống kinh nghiem day hoc liên kết hóa học luyện thi ly luan nguyên tử nhận thức phan mem day hoc phan ung õi hoa - khu phim thi nghiem phim thi nghiem hoa hoc phuong phap day hoc phuong phap day hoc tich cuc phương pháp phản ứng sách hóa học thi dai hoc thiet ke bai giang thi thử tu lieu day hoc tu lieu day hoc hoa hoc ̜hóa học ứng dụng

Copyright © 2026 · Tạp chí Hóa Học

 

Loading Comments...